Cảm nhận về bài thơ Thương vợ – Tú Xương | Văn mẫu 11

Bạn đang quan tâm đến Cảm nhận về bài thơ Thương vợ – Tú Xương | Văn mẫu 11 phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

<3

đề: nêu cảm nhận của anh / chị về bài thơ “thương vợ” của nhà thơ tu bon.

tôi. hướng dẫn ôn bài thơ thương vợ

1. phân tích chủ đề

– yêu cầu đề: phân tích các chi tiết, hình ảnh, nội dung, nghệ thuật của bài thơ để rút ra thông điệp, tư tưởng mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm

Bạn đang xem: Cảm nhận của em về bài văn thương vợ

– chủ đề của tác phẩm: những bài thơ tình cho vợ

– phương pháp kiểm tra: phân tích

2. Bài văn viết cảm nghĩ về tình yêu dành cho vợ

<3<3<3<3

ii. lập dàn ý cảm nhận bài thơ Thương vợ

1. mở bài thấy thương vợ

– Đôi nét về tác giả tran te xuong và bài thơ anh yêu vợ là một trong những bài thơ hay và xúc động nhất của anh tu xu viết về cô ấy

2. nội dung bài viết Tôi cảm thấy yêu vợ tôi

* hai câu chủ đề

– Hoàn cảnh của bà: gồng gánh gia đình, quanh năm bơi “sông ma”

+ thời gian “cả năm”: làm việc liên tục, không có ngoại lệ, năm này qua năm khác

+ Vị trí “sông mama”: địa hình nhô ra lòng sông không ổn định.

⇒ tình hình kinh doanh và công việc khó khăn, thăng trầm, bấp bênh, không ổn định

– lý do:

+ “tải lên”: chăm sóc hoàn toàn

<3

⇒ Một mình nuôi con là chuyện bình thường, nhưng phụ nữ cũng phải chăm sóc chồng mình ⇒ tình huống trái khoáy

+ sử dụng cách dùng độc đáo của con số “một chồng” bằng “năm người con”, anh thừa nhận mình cũng là một đứa trẻ đặc biệt. kết hợp với mẫu 4/3 thể hiện nỗi vất vả của người vợ.

⇒ bà. Bạn là người sống có trách nhiệm và chu đáo với chồng con.

* hai câu thực

– lội thân cò lặn mất tăm: mang ý nghĩa của câu ca dao “con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo con cò để nó không lao vào đầu hoặc thay thế. con cò với thân cò):

p>

+ “bơi”: khó khăn, nỗ lực, khó khăn, lo lắng

+ hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, cô đơn khi làm ăn – & gt; gợi lên nỗi đau cá nhân và sự khái quát

+ “in vắng”: thời gian, không gian thật đáng sợ, đầy lo lắng và nguy hiểm

= & gt; Những khó khăn của bà càng được nhấn mạnh qua nghệ thuật ẩn dụ

– “wow … ship đầy”: gợi lên những cảnh chen lấn, xô đẩy và chiến đấu ẩn chứa những bất trắc

+ tàu đông người: chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng đầy nguy hiểm và lo lắng

– nghệ thuật đảo ngữ, tương phản, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ những hình ảnh bình dân nhấn mạnh sự vất vả của người bà.

= & gt; thực tế của bà. bạn: không gian và thời gian thật đáng sợ, nguy hiểm đồng thời thể hiện tấm lòng nhân ái dịu dàng của ông. bạn.

* hai bài luận

– “một duyên hai nợ”: ý thức được rằng lấy nhau là duyên nên “au phải mệnh”, bon chen cũng ý thức được mình là “duyên nợ” của mình. bạn phải chịu đựng

– “ngày mưa”: chỉ cần chăm chỉ

– “five”, “ten”: số nhiều tính từ

– “dám đảm đương việc công”: đức hy sinh thầm lặng cao cả vì chồng con, hội tụ cả đức tính cần cù, dũng cảm, nhẫn nại.

= & gt; bài thơ sử dụng một cách sáng tạo các thành ngữ, cách dùng từ ngữ hàm súc vừa thể hiện đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà.

* hai phần cuối

– không hài lòng với thực tế, bạn đã chửi rủa vợ mình:

+ “những người cha bạc mệnh”: tố cáo hiện thực xã hội quá bất công với người phụ nữ, cưỡng bức họ quá nhiều, để người phụ nữ phải chịu nhiều vất vả

– nhút nhát:

+ “có chồng hờ hững”: việc bạn bon chen ý thức về sự hờ hững của anh ấy cũng là biểu hiện của thói quen sống

– thừa nhận mình có khuyết điểm, ăn ở với vợ nên vợ nuôi con, phụ chồng.

= & gt; Từ tình yêu thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tư Bốn cũng nguyền rủa thói đời bạc đen.

3. xong bài thấy thương vợ quá

– khẳng định lại những đặc điểm tiêu biểu của nghệ thuật tạo nên thành công cho nội dung

– liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bạn về phụ nữ trong xã hội ngày nay

4. bản đồ tinh thần để cảm nhận bài thơ tình

5. kiến thức sâu rộng

* tình huống sáng tác yêu vợ

– Vợ ông Tư Bốn là bà Phạm Thị Mận, quê ở Hải Dương. cô ấy là một người vợ tốt. cô có 8 người con với anh ta. Trong hoàn cảnh nghèo khó và thất bại trên con đường danh vọng, nhà thơ và các con của ông phải sống nhờ vào sự cần mẫn của người bà.

– đồng cảm với vợ, anh tuồng đã sáng tác rất nhiều bài thơ tặng vợ như: văn tế vợ, tứ có đôi câu đối,… bài thơ thương vợ là một trong những bài thơ đó. những bài thơ. .

– bài thơ được làm vào khoảng năm 1896 – 1897, khi nhà thơ 26 – 27 tuổi. Vào thời điểm đó, gia đình tu bon trở nên nghèo khó và phải dựa vào công việc khó khăn của bà. bạn.

iii. danh sách top 3 món đồ hay cảm thấy yêu vợ nhất

1. bài văn đạt điểm cao, cảm nghĩ thương vợ, văn mẫu số 1

Khi nói đến những người châm biếm thời Trung cổ, điều đầu tiên mọi người nghĩ đến có lẽ là những điều cơ bản. quả thật thơ ông có những nét trào phúng đặc biệt nhất, nó không dịu dàng mà sâu lắng như thơ nguyễn khuyển mà chua chát, ông cười mỉa mai những điều đời thường. Cũng như Nguyễn Khuyến, Trà Tế Xương cũng có bài thơ tự cười mình, không chỉ cười xã hội mà còn cười chính mình. và đó là lý do tại sao nguyễn khuyển có bài tỏ tình, hy sinh mái nhà cũng có bài hát tình vợ. nhan đề bài thơ đã gợi lên tình cảm của nhà thơ đối với người vợ của mình, nhưng đồng thời nội dung bài thơ cũng thể hiện một tiếng cười về sự bất tài vô dụng của vị linh mục xương.

Hai dòng đầu của bài thơ nói lên nỗi vất vả của người vợ yêu. đó là sự chăm chỉ thể hiện và mục đích của công việc đó:

“Tôi buôn bán quanh năm trên sông mẹ,

nuôi năm đứa con với một người chồng ”

Hình ảnh người vợ hy sinh xương máu hiện lên như bất kỳ người phụ nữ, người mẹ nào trong hình hài của một người phụ nữ ngày xưa với sự nghiệp kinh doanh. vì vậy, rất nhiều hình ảnh giản dị hay đẹp đẽ của người phụ nữ thời xưa hiện ra. đó là hình ảnh người phụ nữ áo nâu gánh hàng trên đôi vai nhỏ đi chợ rồi từ chợ trở về nhà. người vợ của nhà thơ xuất hiện với hình ảnh tương tự, và công việc đó thật đặc biệt là công việc này được thực hiện đều đặn qua hai chữ “quanh năm”. người phụ nữ đó làm việc chăm chỉ cả năm cùng một công việc năm này qua năm khác. Tuy nhiên, nơi đây không phải trên vùng đất bằng phẳng, mà là dòng sông mẹ, gợi lên sự gian khổ, hiểm nguy. như vậy, vợ của nhà thơ là một người không chỉ chiến đấu mà còn phải đối mặt với hiểm nguy. nhưng tại sao bà Tú lại làm điều này, không chỉ để nuôi sống bản thân mà còn để chu cấp cho “năm con một chồng”. ở đây nhà thơ tự cười một mình. Số bằng con cái gánh vợ, không những thế, việc “quan tâm” còn thể hiện thêm gánh nặng của người vợ kia, giờ đây, gánh nặng kia không còn đơn giản là tài sản của mình, trong đó có năm người con với một chồng.

Cho đến hai câu thơ tiếp theo, người chồng vẫn tiếp tục bày tỏ tình yêu của mình với vợ và những vất vả mà bà phải trải qua hàng ngày:

“bơi giữa hư không,

đến sớm trên mặt nước vào một ngày đông đúc. ”

Người chồng vốn coi mình là trụ cột của gia đình không chỉ về mặt tinh thần mà còn cả tài chính, nay lại trở thành gánh nặng cho người vợ. The Mrs. Bạn đã phải vượt qua những nguy hiểm khi đi bộ một mình qua những con đường vắng vẻ. hình ảnh con cò trong ca dao xưa tượng trưng cho người phụ nữ nghèo khổ đã được nhà thơ sử dụng trong bài thơ của mình. không biết bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm chực chờ và ăn tươi nuốt sống vợ. vượt qua những nguy hiểm và khó khăn, thưa cô. bạn vẫn đi chợ sông mẹt trên những con đò chật hẹp với lời người mua kẻ bán. họ đang mặc cả từng xu để lo cho gia đình.

và sau đó nhà thơ nói về số phận của mình với người vợ của mình và như thể thay mặt người vợ của mình để trút tiếng thở dài đầy uất ức cho một người chồng tần tảo như đứa con thứ sáu trong gia đình:

“một số phận, hai món nợ, một số phận,

Xem Thêm : Soạn bài Cây khế | Ngắn nhất Soạn văn 6 Kết nối tri thức

năm nắng mười mưa, dám quản công. “

Xem ngay: Tổng hợp những bài khấn viếng mộ cô Sáu ở Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo

Người xưa quan niệm có duyên có nợ, hai người lấy nhau thì có duyên nợ từ kiếp trước, yêu nhau mà không lấy được nhau là duyên nhưng không nợ. . tại đây, ông đã có duyên với nhà thơ nên phải chịu biết bao gian khổ. Một chữ duyên, hai chữ nợ, hãy cứ để bên nhau. nhà thơ đã thể hiện nỗi vất vả của người vợ qua “năm nắng mười mưa”. câu thơ ấy như gợi lên những nỗi nhọc nhằn mà trong các bài hát bình dân cũng ví von là “một nắng hai sương”. Bạn có thể thấy rằng số lượng cụ thể đó làm nổi bật khó khăn của Bà. tuy nhiên, bà trông thậm chí còn đẹp hơn khi bà không phải đối phó với gánh nặng đó. Bà yêu chồng, thương con, hy sinh hết mình cho chồng con mà không một lời than thở.

nhưng chính những lời than thân trách phận và những hy sinh đã khiến nhà thơ không thể yên:

“Cha mẹ sống cuộc đời bạc bẽo:

có chồng thì vô tâm không kém! ”

Tôi yêu người vợ trần truồng của mình và tôi đang tự cười nhạo mình và hai câu thơ cuối cùng này là những lời chửi rủa mạnh mẽ và sâu sắc nhất. tác giả không giúp được gì cho người vợ chân yếu tay mềm hơn mình rất nhiều, nghĩ rằng có chồng cũng không tốt. Phải chăng nhà thơ đang tự chửi mình và tự dằn vặt mình vì đã không giúp được vợ?

ở đây ta thấy nhà thơ cởi trần thể hiện tình cảm sâu nặng với vợ. bài thơ như một bức thư, một dòng nhật ký mà nhà thơ muốn gửi đến người vợ của mình. Đặc biệt, bản thân anh cũng nhận thức được sự vô giá trị của mình và xấu hổ khi tự nguyền rủa bản thân. Tóm lại, dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, thì ở đây chúng ta cũng sẽ biết được tâm trạng và tình cảm của vị linh mục xương dành cho vợ mình.

  • xem nội dung bài văn thương vợ (bằng xương bằng thịt)

2. phân tích và cảm nhận về bài thơ tình số 2

Trong lịch sử văn học nước ta, không ít bài thơ viết về người vợ. do đó, những bài thơ hay viết với sự chân thực, sâu lắng, giàu cảm xúc về đề tài này lại càng hiếm. do đó, có thể coi mái ngố là trường hợp đặc biệt. trong thơ của mình, anh ấy nhắc đến vợ nhiều lần.

khi anh ta cầm trên tay tấm bia đá kê mặt vợ. Mandarin hỏi mức lương của vợ mình. mang lịch sử của một trăm năm trở lại bàn. khi thì vuốt râu, nịnh vợ con. đôi khi anh ấy viết trên giấy và dán nó vào bưu điện. hỏi mẹ bạn xem bà ấy bị câm hay ngoan. hăng hái hơn, ngông nghênh hơn, nhà văn viết bài hy sinh để cứu sống vợ mình. nhưng điểm nổi bật trong mảng thơ này của anh phải nói là bài thơ yêu vợ :

hoạt động quanh năm tại sông mẹ

nuôi năm người con với một người chồng

nuốt chửng xác con cò

trên mặt nước sớm vào mùa đông

một số phận, hai món nợ, số phận

năm nắng mười mưa, dám quản công

cha mẹ sống cuộc đời bạc mệnh

Dù bạn có chồng hay không cũng không có gì khác biệt!

Đây là một bài thơ trữ tình trào phúng cảm động mang đậm màu sắc dân gian. để bày tỏ tình yêu thương, lòng biết ơn và sự kính trọng của mình đối với người vợ, nhà thơ đã miêu tả những khó khăn của mình, người phụ nữ đã quyết tâm nuôi con, nên chồng. qua đó, ông ca ngợi đức tính dũng cảm, sự hy sinh thầm lặng cao cả của một bậc hiền nhân.

Ở hai câu thơ đầu, anh bon chen nói về sự vất vả, nhẫn nại của người vợ một cách tự nhiên, gần gũi, hóm hỉnh, hóm hỉnh. anh vừa đặt gánh nặng chồng con lên vai vừa gián tiếp thể hiện tình cảm sâu nặng với vợ:

Tôi buôn bán quanh năm ở Río Madre

nuôi năm người con với một người chồng

hai câu là một tuyên bố về thời gian. Ở câu thơ đầu, bản thân công việc kinh doanh chưa đủ để thể hiện sự chăm chỉ, nhẫn nại, nhưng hoàn cảnh thời gian (quanh năm) và hoàn cảnh không gian (ở mé sông) đã nói lên điều đó khá rõ ràng. .

trong suốt cả năm, chỉ cần hai tiếng đó thôi cũng có thể kéo dài không biết bao nhiêu thời gian, từ đầu năm đến cuối năm, dù mưa, gió, nắng, lúc nào cũng vậy. dù sao thì cô vẫn đang bận đàm phán. nó là một tình huống thời gian. còn tình hình không gian, và kinh doanh ở đâu? Đó là sông mẹ. Theo Giáo sư Lê Trí Viễn, một vùng đất thừa của lục địa ba mặt là nước, đổ ra sông lúc nào không hay (Lê Trí Viễn – Bài giảng Văn học Đại học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1982). Bà Tú phải đi làm hết ngày này qua tháng khác, năm này qua năm khác, công việc làm ăn của người mẹ bấp bênh không yên đó.

tại sao bạn phải làm việc chăm chỉ như vậy? câu thứ hai trả lời rõ ràng:

Một người chồng nuôi năm đứa con.

nhà thơ đã nâng người vợ của mình lên thành trụ cột của gia đình. Toàn bộ gánh nặng mưu sinh đã đổ lên vai phụ nữ. bà làm lụng vất vả cả năm trời, bất chấp nguy hiểm, khó khăn để nuôi năm người con và một người chồng, nghĩa là sáu miệng ăn mọi thứ, không kể bà. nhưng đồng thời anh ấy đã tự hạ thấp mình xuống mức của các cậu bé, hay nói đúng hơn là anh ấy đang ở cuối hàng sau năm để trở thành thứ sáu. “có chồng” thể hiện rõ là ăn cơm chung, ăn cơm với con. nhà thơ tự thấy mình là gánh nặng cho vợ. Cách nói đó vừa hàm ý lòng biết ơn, tự hào nhưng cũng có chút tiếc nuối, ân hận xen lẫn sự mỉa mai châm biếm.

tiếp theo là hai cụm từ tả thực, nhà thơ đã thể hiện tình yêu thương vợ của mình qua việc miêu tả những vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng đầy dũng cảm của người bà:

lặn và xác con cò khi vắng mặt

trên mặt nước sớm vào mùa đông

mượn hình ảnh con cò cô đơn, khắc khổ trong ca dao xưa: con cò lặn lội bờ sông… được bàn tay nghệ sĩ tài hoa của mình anh đã trau chuốt thêm cho nó. Nếu những bài ca dao thường dùng hình ảnh con cò để gián tiếp so sánh, miêu tả người phụ nữ, cụ thể hơn là người vợ, người mẹ tần tảo vất vả thì ở đây bon chen đã trực tiếp đồng nhất thân cò với thân phận vợ cò. nhà thơ lại dùng phép đảo ngữ của thân cò để nhấn mạnh sự vất vả, gian lao của người vợ. hơn nữa, cảnh nơi bãi cò kiếm ăn ở đây không phải chỉ là bến sông nào, có thể ồn ào, tấp nập hay vắng lặng, buồn bã mà được nhà thơ xác định rõ là một khoảng không. tất cả những điều chúng tôi vừa phân tích đều có ý nghĩa và đã nói lên những nỗi niềm thầm lặng của người vợ với số phận con cò.

Câu tiếp theo nói nhiều hơn về cuộc chiến kiếm sống của anh ta. Nếu bạn đi qua một ngày phà đông đúc (phà đông đúc hoặc tàu đông đúc), bạn phải chịu cảnh bị xô đẩy, xô đẩy để tìm lời nói thương lượng như bao người khác. đã là con nhà nòi thì có gì là bà mà cũng phải trau chuốt, gọt giũa. hơn ai hết nhà thơ thầm thương cảm cho cảnh ngộ và sự hy sinh thầm lặng của người vợ. chỉ vì gánh nặng cơm áo chồng con mà vội quên đi nguy hiểm, vất vả… câu ca dao này tuy không được trích dẫn trực tiếp từ bài ca dao nhưng vẫn phảng phất một nỗi niềm: “Em đi rồi. , mẹ tôi dặn tôi đi Nói này sông sâu đừng bến đò đầy Đó là lời khuyên đàn bà nên giữ cho riêng mình Nhưng ở đây thôi, vì chồng con nên đành phải. sẵn sàng bỏ qua lời khuyên đó.

Chỉ với hai dòng từ gợi hình và cảm động, tác phẩm của bạn đã khắc họa rõ nét hình ảnh của một người vợ mất công làm ăn và một mình cố gắng bơi qua nhiều bối cảnh không gian và môi trường khác nhau. khó nhất, khó nhất, khó nhất khoảnh khắc đáng tiếc nhất và xấu hổ nhất. nhiều người còn cho rằng đây là hai dòng hay nhất của bài thơ. Theo giáo sư nguyễn đăng manh, với hai câu thơ này, tu bon không chỉ tóm tắt những vất vả, khó nhọc, vất vả của bà. tu mà còn gợi lên cảnh buôn bán ở chợ ven sông tỉnh Nam Định.

Nếu bốn dòng đầu của bài thơ vừa bàn luận hoàn toàn là những gì người đàn ông nói về vợ mình thì bốn câu tiếp theo lại thể hiện giọng than thở và nhận trách nhiệm về mình. đúng hơn, ở đây nhà thơ không còn gì để tả nữa, ông đã đóng vai nhân vật viết lời than thở cho vợ một cách chủ quan hơn:

một số phận, hai món nợ, số phận

năm nắng mười mưa, dám quản công

Thông thường, ngôn ngữ Phật giáo có một ý nghĩa rất rộng. trong quan hệ vợ chồng, nhân duyên là nguyên nhân căn bản, nên vợ nên chồng nên duyên vợ chồng. Từ ý nghĩa vừa nói, dân gian ta đã đúc kết thành đôi khái niệm trái ngược nhau: duyên và nợ (một duyên, hai nợ, ba tình …). do đó, trong dân gian, “một duyên hai nợ” để chỉ số phận của một đời người phụ nữ. nhưng ở đây đối ngẫu với câu dưới đây. duyên của hai món nợ trong câu thơ lục bát mang một nghĩa khác: một và hai không còn là một tài khoản nữa mà là một tài khoản, một bội số: chỉ có một, hai duyên thì ít mà nợ thì nhiều. . Cô lấy anh cũng tốt, hãy suy nghĩ kỹ càng. cũng đã chi tiêu nhiều hơn một chút so với những người bình thường. đó là tất cả. nhưng anh ấy là chồng, nhưng anh ấy là một kẻ tồi tệ, khoán trắng. tiền giao phó cho con gái của mình kiếm được; hỏi quan kiếm lương vợ … là nợ đời. duyên thì ít mà nợ thì nhiều.

Sự vất vả, mệt nhọc của thân cò ở câu thơ trước đã nâng lên nỗi vất vả, mệt nhọc của một số phận là số phận của cả một đời người, thật nặng nề, chua xót. Nếu đó là số phận, bạn phải lo lắng. au có nghĩa là quả cam, nhưng nó cũng có màu cam. một câu thơ mà bạn bị lên án hai lần. hết kiên nhẫn, năm nắng mười mưa mới dám quản công. Dù có nắng mưa (năm nắng mười mưa), chị vẫn không quản ngại khó khăn, không quản ngại khó khăn. dám xử lý quần chúng không chỉ có ý nghĩa như vừa nói, mà còn thể hiện sự khiêm tốn. nổi lên trong hai câu thơ là đức hi sinh thầm lặng, nhẫn nại của người khôn. đây cũng là một đức tính truyền thống của người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay. Tôi mới thấy tình yêu vợ của nhà thơ thật cảm động và sâu sắc biết bao.

cuối cùng, hai dòng cuối của bài thơ là một lời nguyền:

cha mẹ sống cuộc đời bạc mệnh

Dù bạn có chồng hay không cũng không có gì khác biệt!

Bỏ ngoài tai những lời nói của người bà, nhà thơ đã nguyền rủa sự kiêu ngạo và vô tích sự của người chồng, nghĩa khí của mình. tất cả nỗi đau của người vợ cùng với sự bất lực, giận bản thân, giận đời đều đọng lại trong lời nguyền dày vò và đáng thương ấy. nhưng thực sự anh ấy có bạc bẽo và vô tâm với vợ như vậy không? điều này thật khó trả lời.

nhưng sau tất cả, bài thơ này đã phần nào trả lời câu hỏi đó. hơn nữa, coi mình là kẻ trống cũng như kẻ thừa, kẻ hờ hững sống mà chết cũng đành, tuy là lời nguyền cho bản thân nhưng cũng là sự ca ngợi và cảm kích công lao của người vợ. mặc dù là một từ bẩn thỉu, nhưng hai dòng cuối cùng vẫn mang đầy màu sắc vui nhộn. lời tự trách mình của nhà thơ cũng là một cách bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với người vợ của mình. Anh ấy nói anh ấy sống bằng tiền, nhưng trái tim anh ấy không phải là tiền, anh ấy không thờ ơ với nó một chút nào.

so thương vợ thực sự là một bài thơ hay để chúng ta hình dung về tình yêu thương chân thành và sâu sắc vô bờ bến của nhà thơ dành cho người vợ yêu thương, chịu khó của mình, hi. gánh nặng chồng con. Bằng một thể thơ trữ tình giàu hình ảnh, âm nhạc, ngôn ngữ tự nhiên và đậm chất văn học dân gian, nhà thơ không chỉ thể hiện tình cảm ấy mà còn dựng nên bức chân dung truyền thống bất hủ về người phụ nữ Việt Nam với tất cả những đức tính đáng quý là dũng cảm, cần cù, nhẫn nại, hy sinh.

& gt; & gt; nó có thể khiến bạn quan tâm: các chủ đề phổ biến về yêu thương vợ (xương của bạn) trong các đề thi

3. phân tích và cảm nhận về bài thơ tình số 3

Nói đến thơ trào phúng, không ai có thể quên ông, một giọng thơ mạnh mẽ, mạnh mẽ, đanh thép, hàm súc, mạnh mẽ hiếm có. Ian Vien từng viết: “Xương của bạn cười như mảnh thủy tinh.” nhưng tran te bon không chỉ là một nhà thơ hiện thực, như Nguyễn tuẩn nói, rằng chủ nghĩa hiện thực chỉ là “chân trái”, và “chân phải” của anh ta là trữ tình. Tôi trân trọng và nhớ thơ bon chen của anh hơn, có lẽ vì người ta được lắng nghe nhịp đập của trái tim chân thành, giàu cảm xúc, trân trọng những nhân cách, những nỗi đau khôn nguôi. buồn vì không có tiền cứu giúp một người ăn xin, một người đồng hương cùng cảnh ngộ, anh ta đã thề độc: “cha nào con nấy lấy”. mang nỗi hổ thẹn thân phận nô lệ của một trí thức, ông chua xót nói: “có tài thì bắc! ngoảnh mặt nhìn nước” …

ở ngoài xã hội, nhưng trong gia đình, anh luôn bị dằn vặt về thói vô trách nhiệm, “thương vợ”, có người chồng phải đảm đương vai chính, anh tự mắng mình là “vai vô tâm”. của tôi. “

Tôi chắc rằng người già đa phần rất yêu thương vợ con, nhưng do một quan niệm nào đó, họ thường ngại bày tỏ tình cảm của chồng, nhất là bày tỏ tình cảm với vợ một cách trực tiếp qua giấy trắng mực đen, ít nói hơn. thông qua văn học. Ở thế kỷ 20, có hai nhà thơ là Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã không ngần ngại bày tỏ tình yêu của một người chồng đối với người vợ của mình khi còn sống. nhưng về chủ đề này, tình yêu của người phụ nữ bon chen là bài thơ nổi tiếng nhất.

Hình ảnh nổi bật trong bài thơ là hình ảnh của hai con người: người vợ siêng năng, giàu đức hi sinh và người chồng rất hiểu, chia sẻ, yêu thương và kính trọng vợ.

hai câu đầu trình bày nghề nghiệp của bà. bạn cũng như những trách nhiệm lớn lao của anh ấy:

Tôi buôn bán quanh năm ở Río Madre,

Một người chồng nuôi năm đứa con.

buôn bán là một nghề giống như bất kỳ nghề nào khác, mọi người hành nghề đó để kiếm sống. người xưa cũng coi đây là nghề duy nhất nếu muốn làm giàu. nhưng công việc kinh doanh của bạn không như vậy. không có cửa hàng, cửa hiệu hay nhà hàng, nhưng “công việc kinh doanh” của ông là ở “sông mama”. hai chữ “sông ma” đã gợi lên hình ảnh một mảnh đất nhô ra bên bờ sông, có thể con nước xuống, con nước lên, đò qua thì mai thành chợ, không thì thôi. buổi chiều. đổ hai ba gánh hàng, là nơi buôn thúng bán mẹt, với số vốn ít ỏi mà kiếm lời thì chắc chắn số tiền thuê không đáng bao nhiêu.

nhưng công việc khó khăn đó, cô không chỉ chịu đựng một hai buổi mà phải theo đuổi nó “cả năm trời”. từ “cả năm” gợi ý một khoảng thời gian dài, 12 tháng, từ tháng Giêng đến tháng Mười Hai, cũng có nghĩa là năm này qua năm khác. sự vất vả đó dường như sẽ theo cô ấy suốt phần đời còn lại, vì nó chẳng giúp cô ấy tốt hơn khi có một công việc thú vị khác hay đưa “công việc kinh doanh” của cô ấy lên một tầm cao hơn.

Công việc vất vả, thu nhập ít ỏi nhưng bạn phải lo cho một gia đình có sáu miệng ăn. hơn nữa không có sáu mà là “năm con chung một chồng”, “năm con” là số nhiều, nhưng dù sao cũng có thể chịu đựng được, lo cho chúng bạn chỉ cần đĩa cơm, manh áo. nhưng người chồng, là “một”, nhưng chi bằng năm người con. đôi khi thậm chí nhiều hơn! Mỗi lần đi thi, tiền bạc đều dồn hết vào lưng vợ, chưa kể lúc rượu chè, lúc vui vẻ, đi hát anh cũng trả tiền cho vợ… bao nhiêu khoản chi tiêu nhưng khi cô ấy. cũng quan tâm “khá nhiều”. Thực sự là người tháo vát, chiều chuộng chồng thật tốt!

<3

nuốt chửng xác con cò,

trên mặt nước sớm vào mùa đông.

câu thơ gợi lên hình ảnh con cò trong ca dao quen thuộc:

Xem ngay: Soạn bài Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô đại cáo) – Phần 1: Tác giả Nguyễn Trãi | Ngắn nhất Soạn văn 10

… con cò bơi bên sông

gánh gạo cho chồng khóc nhè nhẹ

Xem Thêm : Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ (7 mẫu) – Văn 7

… con cò đi ăn đêm

đặt nó trên một cành cây mềm và quay cổ về phía ao

Hình ảnh loài chim tốt bụng, chăm chỉ, lặng lẽ kiếm ăn trên đồng lúa, bãi sông đã trở thành biểu tượng của những người phụ nữ cả đời vất vả vì chồng con. nghĩ về bản thân.

trong thơ con cò không phải là con cò mà là thân cò. nó không còn là một con vật cụ thể, mà là một số phận, một định mệnh, một thứ gì đó thật mong manh, nhỏ bé trước bao vũ điệu của cuộc đời (tiếc cho thân phận con rùa / thân mình như cao lương / thân mình như thế một giọt mưa …). quá yếu, quá bị động mà luôn lăn xả, chiến đấu. khi đường xa chẳng còn gì, khi đầy thuyền thì anh khốn khó. hai tính từ đối nhau ở đầu hai dòng vừa có ý nghĩa tượng hình, vừa có ý nghĩa biểu cảm. có một người đàn bà gầy như cò, gánh trên vai lẻ loi đi trên con đường lầy lội. hàng đã cất, tránh mưa gió làm mất tiền nên ra ngoài. và cũng cái thân cò bay ấy, phải vặt lông tung cánh, tranh cãi mua bán tranh, loay hoay tầng dưới mới tới được thuyền, chật vật ở tầng trên cho kịp chợ. ở những nơi đông người, bạn đổ mồ hôi, khi trống rỗng, bạn rơi nước mắt.

Nhưng cô ấy là một quý cô trong mắt đàn ông, với cô ấy không một lời phàn nàn, mà là một thái độ kiên nhẫn vốn có của phụ nữ phương Đông.

một định mệnh đã định sẵn,

Năm nắng mười ngày mưa dám quản công.

Các con số được sử dụng khéo léo, theo thứ tự tăng dần và ngược lại: một, hai, năm, mười, gợi lên những khó khăn ngày càng tăng và nghị lực phi thường của người vợ đảm đang. nó rất mạnh, nhưng thật đáng tiếc! hầu hết phụ nữ dựa vào chồng để hạnh phúc, nhưng với một người bà, đó chỉ là một món nợ thêm cho cuộc đời. nhân cách hóa nhân vật hy sinh chết chóc để nói lên những thiệt thòi của người vợ, nhưng đồng thời cũng thấy rõ đức tính hy sinh của người bạn đời. ở cuối hai câu thơ còn ẩn sau những khó khăn được đưa ra là lời tuyên bố: au phải mệnh / dám quản công. một thái độ dứt khoát, một sự chấp nhận không thể nghi ngờ, một cách cư xử rõ ràng. Phụ nữ Việt Nam là thế, bà Tư Bốn là thế, họ coi “việc nhà chồng” là việc của mình, tự nguyện mang nặng đẻ đau.

cô ấy chỉ chịu đựng nó trong im lặng, vì vậy ông tôi đã đổ lỗi cho cô ấy:

cha mẹ sống cuộc đời bạc mệnh,

Có chồng hờ hững như không.

những bài thơ giống như những lời lẽ không hay. mà là một lời nguyền thực sự: “lối sống của cha mẹ …” Không phải người vợ phải chịu nhiều vất vả, thiệt thòi mà chính là người chồng tự chửi mình. từ “hờ hững” nghe thật chua xót. cô lấy phải một người chồng độc ác, không giúp được gì cho gia đình, vì vợ không thể làm trụ cột gia đình, anh ta bỏ vợ cho cô ta nuôi. đúng là có bồ mà không có chồng còn khổ hơn không có chồng. bài thơ có chút cay đắng trong thơ xuân hương:

cố gắng ăn xôi, xôi nguội rồi

nhận giấy phép làm việc miễn phí.

cơ thể này biết rõ điều đó

Tôi muốn ở lại đây trước.

Tóm lại, hình ảnh nổi bật của bài thơ là hình ảnh người đàn bà là hiện thân của cuộc đời tần tảo, vất vả, là nơi hội tụ của nhiều đức tính tốt đẹp: siêng năng, dũng cảm, nhẫn nhịn … quên mình vì cuộc sống của chồng con. con trai. .

có một người dường như không phải là ông. bạn, nhưng đôi mắt và trái tim của anh ấy luôn hiện hữu. mắt anh thấy rõ mọi nhọc nhằn, cay đắng hàng ngày, lòng anh thấu hiểu nỗi cô đơn, nỗi khổ thầm lặng của anh. bài thơ thương vợ là một lời tự kiểm điểm, tự nhận lại sự bon chen rất chân thành và nghiêm khắc của mình. mỗi câu thơ như một tiếng thở dài đau đớn của một con người rất có trách nhiệm nhưng không có khả năng tự vệ. đó là tấm lòng yêu thương, ngưỡng mộ và lòng biết ơn chân thành của người chồng đối với người vợ đã vì mình mà chịu nhiều vất vả.

  • cảm nhận hình ảnh người bà trong bài thơ nhớ vợ
  • cảm nhận tấm lòng của bà qua bài thơ nhớ vợ

4. Phân tích và cảm nhận về bài thơ tình số 4

Hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở trong thơ ca Việt Nam. tuy nhiên, thơ viết về người vợ với tình cảm của người chồng đã hiếm, nay viết về “đức hy sinh” của người vợ lại càng hiếm. còn trần truồng là người đàn ông đưa hình ảnh người vợ vào những dòng thơ trữ tình nhưng cũng không kém phần trào phúng. Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương giống với thời kỳ quá độ đầy nghèo khó, nửa thực dân, nửa phong kiến. Ông là một người thông minh, hiếu học, có tài làm thơ nhưng lại gặp khó khăn trong các kỳ thi. nổi tiếng với chất thơ trữ tình, trào phúng xen lẫn một chút châm biếm và tiếng cười cao trào, bắt nguồn từ lòng nhiệt thành của anh đối với con người, đất nước và thế giới.

tu xương từng được mệnh danh là tác giả châm biếm hay nhất trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ 20. những tác phẩm ông để lại chủ yếu là thơ phú và có nhiều bài rất đặc sắc, có thể nói là đẹp cả về nội dung và nghệ thuật. ví dụ rõ ràng nhất là bài thơ thương vợ . bạn bon chen đã bày tỏ tình yêu thương, sự kính trọng và sự tiếc thương của anh ấy đối với sự hi sinh của vợ trong bài thơ này:

“Tôi buôn bán quanh năm trên sông mẹ,

Một người chồng nuôi năm đứa con.

nuốt chửng xác con cò,

trên mặt nước sớm vào mùa đông.

một số phận, hai món nợ, số phận,

năm nắng mười mưa, dám quản công.

những bậc cha mẹ sống trong cảnh bạc:

có chồng thì vô tâm không kém! ”

thương vợ là một trong những sáng tác của tu xu nói về bà. tu, đó cũng là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của anh về vợ. bài thơ được viết bằng tiếng du mục với ngôn từ giản dị và hình ảnh đẹp. nó không chỉ đề cập đến nhiều khía cạnh của xã hội, mà còn là âm hưởng của sự nghiêm trọng đến đáng thương của kẻ tu bon, nạn nhân của xã hội lúc bấy giờ, thứ khiến con người trở nên vô dụng với bản thân và gia đình. . đồng thời bài thơ cũng giúp người đọc thấy được đức hi sinh cao cả của bà cụ đối với gia đình.

đầu vở tu bon trình bày hoàn cảnh và công việc của cô. bạn:

“Tôi buôn bán quanh năm trên sông mẹ,

nuôi năm đứa con với một người chồng. ”

Mạch cảm xúc của bài thơ mở ra từng chút một bằng bức tranh toàn cảnh về những vất vả, trăn trở của người bà. các câu về chủ đề như giới thiệu tình huống khó khăn cho biết thời gian và địa điểm. tác giả sử dụng từ “cả năm” – một cụm từ chỉ khoảng thời gian rất dài, lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên, tác giả đã miêu tả những khó khăn triền miên của bà. ngày này qua ngày khác, bất kể mưa nắng. . chỉ thế thôi cũng đủ để lại trong lòng người đọc hình ảnh về khuôn mặt bận rộn và tăm tối của bà. bạn.

nhưng không dừng lại ở đó, cách đo đếm thời gian như vậy còn góp phần làm nổi bật không gian kinh doanh của bạn thông qua hình ảnh “dòng sông mama”. Đầy rẫy hiểm nguy khó lường, địa thế “sông nước của ma cô” là công việc kinh doanh hàng ngày của chị em phụ nữ. Khoảng thời gian dài cộng với hoàn cảnh khó khăn càng làm tăng thêm hình ảnh người phụ nữ trẻ trung, hết lòng vì miếng cơm, manh áo cho cả gia đình. Bằng giọng văn hóm hỉnh và tài năng trong nghệ thuật châm biếm, ông Tư Bốn đã chế tác ra câu thơ thứ hai như một bản cáo trạng đanh thép đối với xã hội phong kiến ​​đã biến nam chính thành nhân vật phản diện. lương của vợ. “

“Tiếng trống vừa kết thúc, tôi đang đi lên thang

hỏi anh ấy về mức lương của anh ấy … vợ anh ấy ”

(quan chức địa phương – cơ bản)

<3 từ “đủ” biểu thị cả chất lượng và số lượng. Ngoài ra, cách đặt hai từ đếm "năm" và "một" có vẻ khập khiễng nhưng hóa ra lại độc đáo và mới lạ. Tube tự giễu cợt khi so sánh mình với 5 đứa con của mình. anh ta tự cho mình là “trai đặc biệt”, ngầm nâng địa vị của vợ lên bậc thần thánh. Ngoài ra, cấu trúc năm và một với từ "với" chứa đựng sự xấu hổ khi người chồng phải phụ thuộc vào vợ mình.

Hai câu mở đầu đã thể hiện hết đức tính cao quý của người bà: chịu thương, chịu khó để nuôi gia đình. qua đó tu bon cũng khéo léo bày tỏ lòng biết ơn đồng thời cũng là nỗi xót xa khi phải so sánh mình với những đứa trẻ nhỏ. Tiếc thật, thật đáng tiếc!

thấu hiểu nỗi lo toan, vất vả của người vợ, bon chen của bạn liên tưởng đến hình ảnh con cò trong bài ca dao:

“con cò bơi trên sông

gánh gạo đỡ chồng khóc to ”

để mô tả nỗi đau khổ của bà. bạn trong hai câu thực:

“bơi giữa hư không,

đến sớm trên mặt nước vào một ngày đông đúc. ”

Việc sử dụng từ “thân cò” vừa thể hiện cá tính riêng vừa thể hiện sức sáng tạo đương đại trong phong cách thơ của bà, đồng thời xác định được bản sắc của bà. em nói riêng và hình ảnh người phụ nữ nói riêng cùng với hình ảnh thân cò mỏng manh. “tiếp theo, từ” thân “tuy đơn giản nhưng nghe thật chua xót, gợi cho người đọc một điều gì đó thật nhỏ bé và đáng thương.” khi khoảng cách ”là một cụm từ rất đặc biệt, nó không chỉ gợi không gian choáng ngợp, cảm giác nguy hiểm rình rập người mẹ sương khói mà còn thể hiện nỗi khắc khoải của thời gian. Cùng với nghệ thuật đảo ngữ, điệp từ“ lặn mất tăm ”đã nhấn mạnh hình ảnh những người phụ nữ chật vật kiếm sống đến mức đau đớn và gầy gò.

nếu câu thơ thứ ba gợi lên nỗi cô đơn thì câu thơ thứ tư là sự vật lộn với cuộc sống đông đúc. lại một lần nữa, tu từ sử dụng biện pháp đảo ngữ với từ tượng thanh gợi lên sự nhộn nhịp, ồn ào nhằm nhấn mạnh cảnh thường ngày nơi chợ búa gắn với người phụ nữ “năm con một chồng”. hình ảnh “chiếc thuyền đầy ắp” cũng giúp làm nổi bật một bà cụ cần mẫn, bận rộn. sự đông đúc của con tàu cùng với “khi khoảng cách” đã tạo ra nguy hiểm và khó khăn gấp nhiều lần. Tổ tiên ta có câu “sông sâu đừng đò ngang, đò ngang chớ qua”, nhưng vì cuộc sống, vì cơm áo gạo tiền cho chồng con, bà đã phải cam kết điều đó. . nơi nguy hiểm. hai câu thực tuy đối nghĩa về từ “nay đây mai đó” – “khi vắng bóng” nhưng lại tiếp tục nói lên ý nghĩa làm nổi bật những khó khăn của người phụ nữ nhỏ bé này.

Chuyển sang hai dòng tiếp theo, bạn bon chen đóng vai chủ thể trữ tình mượn lời vợ để ngầm ca ngợi những hi sinh thầm lặng mà chị đã dành cho chồng con:

“một số phận, hai món nợ, một số phận,

năm nắng, mười mưa, dám quản công. ”

Theo quan niệm phong kiến ​​xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa rất thiêng liêng về tình nghĩa vợ chồng do ông trời định sẵn, xuất phát từ sợi tơ hồng của ông tơ bà nguyệt. tuy nhiên, khi đặt chúng vào ca từ của bài thơ, hai điều đó trở nên nặng trĩu như một lời than thở khi duyên tuy chỉ có một nhưng lại là do hai. hơn nữa, việc sử dụng song song hai thành ngữ “một duyên hai nợ” – “mưa nắng năm tháng” trái ngược nhau về từ ngữ và ý nghĩa đã khiến câu thơ lắng xuống nỗi niềm. Không chỉ vậy, sự tương phản này còn thể hiện rõ tài năng văn chương điêu luyện của nhà thơ.

sự hy sinh cao cả của bà. tu còn được nhắc đến qua hai cụm từ “au phải mệnh” và “dám xử lý việc công”. nguyên nhân dẫn đến sự hy sinh thầm lặng của anh thật giản dị nhưng cao cả. đó là do duyên với chồng con. Bằng cách đan xen thơ ca với những đảo ngữ, đảo ngữ vô cùng tinh tế, nhà thơ Tư Bốn đã khắc họa thành công tấm lòng chân thành của người vợ đầy đức hy sinh, cần mẫn như một người phụ nữ Việt Nam truyền thống.

Vì yêu vợ, yêu đời con gái, nhưng anh lại đóng vai chính trong gia đình, bạn hãy tự trách bản thân mình. hai dòng cuối của bài thơ cũng như một lời nguyền cay đắng và căm giận đối với những định kiến ​​nghiệt ngã:

“Cha mẹ sống cuộc đời bạc bẽo:

có chồng thì vô tâm không kém! ”

Mạch cảm xúc của bài thơ dường như có sự chuyển biến đột ngột. bon chen của bạn không còn ẩn mình sau những câu ca dao khen vợ nữa mà dường như nói thay vợ, trách chồng và trách mình. “cha mẹ sống kiếp phụ bạc” là cách nói rất hợp với phong cách thơ trào phúng căm phẫn thiên hạ vì sự băng hoại của xã hội lúc bấy giờ. Ngoài ra, ít ai biết rằng đằng sau lời nguyền cuối đời này còn có một bi kịch nhân sinh đầy đau đớn. tu bon chửi cái “thói đời” thì cũng chửi chính mình, chửi cả đám đàn ông đang trên đường danh lợi nhưng không ngăn được vợ mình trở thành kẻ ăn bám. bon chen của bạn bị coi là người “thờ ơ” với trách nhiệm làm cha, làm chồng. tuy nhiên, nếu nhìn lại sự việc, thì Tủy đáng thương hơn là đáng trách. bởi vì suy cho cùng, chính cái xã hội kia đã đẩy anh đến bước đường cùng. hai câu thơ khép lại tác phẩm là một lời nguyền rủa bản thân, một lời nguyền rủa cuộc đời bon chen nhưng lại mang ý nghĩa xã hội lên án sâu sắc, giúp khẳng định tình cảm vợ chồng son sắt. tuy “ăn lương phụ vợ” nhưng anh rất chu đáo và luôn dõi theo chị, hơn hết là luôn bày tỏ lòng biết ơn đối với người phụ nữ anh yêu thương. đoạn thơ kết thúc bất ngờ, thấm đẫm nỗi buồn, nỗi bất hạnh trong cảm xúc của chính tác giả và sự hài hước dí dỏm.

Lòng yêu thương vợ cả trong quá khứ và hiện tại vẫn là tấm gương sáng cho nhiều người. bài thơ vẫn giữ nguyên giá trị cùng với ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tình yêu thương, sự trân trọng, thấu hiểu nỗi đau và sự hi sinh vì gia đình của người phụ nữ. đồng thời cũng là tiếng nói phê phán sự bất công của xã hội phong kiến ​​thối nát, thối nát.

như vậy bài thơ Thương vợ là một bài thơ có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bằng chất thơ mộc mạc, trữ tình pha chút trớ trêu, Tư Bốn đã khắc họa được chân dung người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ mộc mạc, giản dị nhưng lại rắn rỏi, mạnh mẽ. do đó quả thật bon chen của bạn là nhà thơ viết những vần thơ hay và xúc động nhất về người vợ của mình. Anh ấy đã để lại những bài viết chân thành, xúc động và có giá trị.

(nguồn: khanh linh / thichvanhoc.com)

Các bạn vừa tham khảo xong những bài văn mẫu hay được đánh giá cao khi phân tích, cảm nhận về bài thơ Thương vợ bằng những bài văn tế mình thấu xương. Hi vọng bài viết sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho các bạn trong quá trình tìm hiểu đề và viết bài văn xin việc. Ngoài ra, các em có thể tham khảo nhiều tài liệu văn mẫu 11 khác được cập nhật thường xuyên tại doctailieu.com. Chúc các bạn làm bài tốt và đạt kết quả tốt!

Xem ngay: Thuyết minh về cây bút chì lớp 8,9

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn hóa

                       

Vậy là đến đây bài viết về Cảm nhận về bài thơ Thương vợ – Tú Xương | Văn mẫu 11 đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Back to top button