Tác động của đại dịch COVID-19 và vấn đề đặt ra cho nợ công ở Việt Nam

Bạn đang quan tâm đến Tác động của đại dịch COVID-19 và vấn đề đặt ra cho nợ công ở Việt Nam phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Tóm tắt: Trên toàn cầu, nợ công đang trở thành một chủ đề nóng hiện nay vì nó đe dọa các dấu hiệu phục hồi kinh tế toàn cầu. Đã từng có nỗi lo sợ về một cuộc suy thoái khác trong triển vọng kinh tế. Mặc dù nợ công của Việt Nam ở mức an toàn vào năm 2020 (57,4% GDP, dưới mức cho phép 65% GDP) nhưng đã tăng lên so với năm 2019. -19 Đối với mọi mặt của đời sống kinh tế và xã hội, các chính phủ phải thực hiện nhiều bước để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Những giải pháp này dẫn đến thâm hụt ngân sách và nợ công gia tăng. Mặc dù vấn đề nợ công cao của Việt Nam giai đoạn 2016-2019 đã được khắc phục tốt, nhưng nợ công trong giai đoạn tiếp theo vẫn cần được tính toán, cân nhắc.

Tác động của đại dịch covid-19 đối với vấn đề nợ công của Việt Nam

Bạn đang xem: Thực trạng nợ công ở việt nam

Tóm tắt: Nợ công đang là chủ đề nóng những ngày nay vì nó được coi là mối đe dọa đối với sự phục hồi kinh tế toàn cầu, với viễn cảnh suy thoái kinh tế ảm đạm. Mặc dù nợ công của Việt Nam ở mức an toàn vào năm 2020 (57,4% GDP, dưới mức 65% GDP được phê duyệt) nhưng lại tăng nhẹ so với năm 2019. Nền kinh tế xã hội và đời sống công dân của covid-19 đã buộc các chính phủ phải đưa ra các biện pháp hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp, điều này có thể làm tăng thâm hụt ngân sách và nợ công. Mặc dù vấn đề nợ công cao của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 đã được kiểm soát tốt, nhưng vấn đề này vẫn cần được xem xét trong giai đoạn tiếp theo.

1. đại dịch covid-19 và suy thoái toàn cầu

1.1. Đại dịch covid-19 ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu

– Nhiều ngành và lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề: Kể từ ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới đã chỉ định covid-19 là một đại dịch, đã làm tê liệt nền kinh tế thế giới. Thế giới đã phải chịu đựng sự suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ Thế chiến thứ hai, với việc đóng cửa và đóng cửa biên giới để ngăn chặn sự bùng phát khiến thương mại toàn cầu đi vào bế tắc, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và dẫn đến làn sóng phá sản doanh nghiệp trên khắp thế giới, phần lớn là do nhu cầu. Có thể xem lại một số ngành và lĩnh vực đã bị gián đoạn nghiêm trọng bởi covid-19:

+ Các hãng hàng không: Nhiều hãng hàng không đã phải sa thải nhân viên để cắt giảm chi phí. Theo Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (iata), lưu lượng hành khách của các hãng hàng không vào năm 2020 dự kiến ​​sẽ thấp hơn 66% so với năm 2019, với mức lỗ ròng hơn 118 tỷ USD [1]

+ Du lịch: Lượng khách du lịch quốc tế giảm 65% trong sáu tháng đầu năm 2020, trong đó riêng tháng 6 năm 2020 giảm 93% so với cùng kỳ năm 2019 (Tổ chức Du lịch Thế giới-UNWTO). Lượng khách du lịch quốc tế tiếp tục giảm đáng kể trong quý I năm 2021, giảm tới 83% so với cùng kỳ năm 2020 [2].

+ Bán lẻ: Lĩnh vực bán lẻ đã bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp cấm cửa nghiêm ngặt được áp dụng ở nhiều quốc gia để ngăn chặn dịch covid-19. Doanh số bán lẻ toàn cầu giảm 5,7% vào năm 2020, theo số liệu của Statista. Forrester dự đoán rằng các nhà bán lẻ sẽ phải mất 4 năm để vượt qua mức trước đại dịch [3], [4].

Ngoài một số ngành đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi covid-19, nhiều lĩnh vực hoạt động toàn cầu khác cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

+ Hoạt động đầu tư: Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu (fdi) giảm 42% vào năm 2020 so với năm 2019 (từ 1,5 nghìn tỷ USD xuống ước tính 859 tỷ USD), mức thấp nhất kể từ năm 1990, mức thấp nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là 30%. trong năm 2008-2009. Sự sụt giảm dự kiến ​​sẽ tiếp tục khoảng 5-10% vào năm 2021 (UNCTAD, 2020) [5].

+ Hoạt động thương mại: Theo wto, thương mại hàng hóa thế giới sẽ giảm 5,3% vào năm 2020. WTO dự báo tổng thương mại hàng hóa thế giới sẽ giảm 8,0% vào năm 2021 [6].

– Giảm giờ làm việc, tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm thu nhập của người lao động: Theo báo cáo mới nhất của ILO (tháng 1 năm 2021), 114 triệu việc làm sẽ bị mất vào năm 2020 và số người thất nghiệp trên toàn thế giới sẽ tăng thêm 33 triệu, tương ứng với Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 1,1% lên 6,5%. Thu nhập lao động toàn cầu được dự báo sẽ giảm 8,3% xuống còn 3,7 nghìn tỷ đô la vào năm 2020, hay 4,4% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu (gdp). / p>

– Suy thoái toàn cầu: Trước cú sốc từ năm 19, nhiều nền kinh tế ở các khu vực khác nhau trên thế giới đã rơi vào suy thoái cùng một lúc vào năm 2020. Quỹ tiền tệ thế giới imf dự đoán rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ giảm khoảng 4,4% vào năm 2020 [8].

Việc các doanh nghiệp phải sa thải công nhân để cắt giảm chi phí sẽ tạo ra một vòng xoáy suy thoái. Các doanh nghiệp phải dừng lại khi người lao động mất việc làm và thu nhập giảm làm giảm nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, làm dấy lên làn sóng vỡ nợ toàn cầu. Để đối phó với suy thoái sâu, các chính phủ đã tăng chi tiêu hàng nghìn tỷ USD, cùng với các biện pháp tiền tệ và các khoản vay khẩn cấp để bảo vệ việc làm, hỗ trợ người lao động và kích thích tăng trưởng kinh tế. nền kinh tế.

1.2. Kích thích và tăng nợ công

Đối mặt với những tác động bất lợi của covid-19, các quốc gia đã đồng loạt tung ra các gói kích cầu và nhiều biện pháp tiền tệ để giải cứu các nền kinh tế. Tổng giá trị của gói hỗ trợ của Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản thậm chí cao tới 20% gdp. Tác động của các biện pháp kích thích của chính phủ đã phần nào cải thiện sức khỏe của nền kinh tế, tăng khả năng phục hồi và giữ tỷ lệ thất nghiệp trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, việc tung ra một loạt các gói kích thích sẽ đi kèm với những hệ quả, đẩy nhiều quốc gia vào tình thế khó khăn mới. Việc nới lỏng tiền tệ và hạ lãi suất thông qua các gói hỗ trợ tài chính trị giá hàng nghìn tỷ USD đã khiến nợ công và thâm hụt ngân sách của các nước bị đe dọa nghiêm trọng. Các biện pháp tài khóa để chống lại cú sốc kinh tế từ năm 19 đã khiến nền kinh tế thế giới thiệt hại 12 nghìn tỷ USD, theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào tháng 10 năm 2020. Việc chi tiêu ồ ạt đã đẩy nợ công toàn cầu lên mức cao nhất mọi thời đại.

Hình 1: Nợ công ở các thị trường đang phát triển và mới nổi, 1970-2020

Nguồn: World Bank

Các nhà kinh tế nhận thấy các quốc gia vào năm 2020 có nợ công rất thấp. Đối với các nước phát triển, OECD gần đây đã cảnh báo về sự an toàn của nợ công của họ khi họ thực hiện các bước để chống lại tác động của covid-19: Việc cắt giảm mạnh doanh thu thuế, chi tiêu công, chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch bệnh đã khiến các nước này thiệt hại thêm 17 nghìn tỷ USD Về nợ công, tỷ lệ nợ chính phủ bình quân tăng từ 109% GDP lên hơn 137%. Nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là rất lớn. Ngân hàng Thế giới (wb) cũng cảnh báo rằng các nước có thu nhập thấp và trung bình phải đối mặt với rủi ro nợ cao và việc trả nợ sau khủng hoảng là rất khó khăn. Việt Nam là nước có thu nhập thấp và trung bình. Đại dịch covid đã ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Chính phủ cũng đã phải chi hàng chục nghìn tỷ đồng hỗ trợ trọn gói, tạo ra bài toán nợ công cần phải tính toán.

2. Các vấn đề nợ công gần đây ở Việt Nam

2.1. Tác động của Covid-19 đối với nền kinh tế Việt Nam

Xem ngay: Thực đơn cho trẻ 7 tháng chậm tăng cân | Vinmec

Xem Thêm : Tải MathType 6.9 Full Crack miễn phí hướng dẫn chi tiết

– Tăng trưởng kinh tế chậm lại: Việt Nam là một trong số ít quốc gia đã quản lý tốt dịch bệnh covid-19 nhưng vẫn gây ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế. Trong quý 1, 2 và 3 năm 2020, GDP của Việt Nam giảm xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm giảm hơn 50%. Hầu hết các hoạt động kinh tế đều suy giảm, sản xuất công nghiệp, bán lẻ và dịch vụ, tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhập khẩu và các chỉ số tín dụng vẫn tăng nhưng với tốc độ thấp hơn; cả vốn FDI đăng ký và thực hiện đều tăng trưởng âm. Mặc dù tốc độ tăng trưởng gdp trong sáu tháng đầu năm 2021 đã được cải thiện, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với năm 2019, đặc biệt là kể từ khi đợt bùng phát covid-19 bắt đầu vào tháng 5 năm 2021 ở nhiều tỉnh, thành phố vẫn sẽ tiếp diễn. Tiếp tục giảm tốc độ tăng trưởng gdp trong tương lai (Bảng 1).

Bảng 1: Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam 2019-2021

Nguồn: Tổng cục thống kê [9], [10]

Ngoài lĩnh vực nông nghiệp đang phát triển vào năm 2020, các hoạt động dịch vụ như sản xuất công nghiệp, bán lẻ, vận tải, dịch vụ lưu trú, ăn uống … đều bị ảnh hưởng nặng nề. Bước sang 6 tháng đầu năm 2021, khu vực nông nghiệp; công nghiệp và xây dựng tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng, nhưng khu vực dịch vụ vẫn bị ảnh hưởng nặng nề.

– Doanh nghiệp và người lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng:

+ Khó khăn đối với doanh nghiệp: đơn hàng xuất khẩu giảm, hàng hóa lưu thông khó khăn, chi phí vận chuyển, lưu kho tăng; thiếu nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi là khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp. Năm 2020, có 101.700 doanh nghiệp đóng cửa có thời hạn hoặc chờ giải thể và đã hoàn thành thủ tục giải thể, tăng 13,9% so với năm trước. Trung bình mỗi tháng có khoảng 8.500 doanh nghiệp thoát khỏi thị trường. Trong sáu tháng đầu năm 2021, tình hình không mấy khả quan, với hơn 70.200 công ty tạm đóng cửa chờ thủ tục giải thể, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2020, với trung bình 11.700 công ty rút khỏi thị trường. mỗi tháng. Đây là con số chưa từng có trong 10 năm qua [11].

+ Việc làm, người lao động kiếm được ít hơn, tỷ lệ thất nghiệp tăng: Tính đến tháng 9 năm 2020, 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch covid-19, bao gồm cả những người bị mất việc làm và phải nghỉ làm / theo ca , giảm giờ làm, giảm thu nhập … Trong đó, 68,9% người bị giảm thu nhập, gần 40,0% phải giảm giờ làm / ngày nghỉ và khoảng 14,0% người làm việc theo ca / ​​ngày nghỉ. buộc phải nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động kinh doanh sản xuất. 33,4% doanh nghiệp đã phải thực hiện các bước để cắt giảm lực lượng lao động. Trong quý I năm 2021, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,7%, giảm 1 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2020.

2.2. Ngân sách quốc gia trong bối cảnh đại dịch covid-19

– Kế hoạch Hỗ trợ Kinh tế của Việt Nam: Trước tác động nghiêm trọng của dịch bệnh covid-19 đối với người lao động và doanh nghiệp, chính phủ đã đồng thời triển khai kế hoạch kích thích kinh tế. Các gói hỗ trợ ngân sách tổng trị giá khoảng 307.580 tỷ đồng cũng là những gói kích cầu chưa từng có, như: (i) Gói hỗ trợ an sinh và xã hội 61.580 tỷ đồng; (ii) Gói hỗ trợ hoãn thuế và tiền thuê đất 180 nghìn tỷ đồng; (iii) Tối thiểu 40 nghìn tỷ đồng đề án hỗ trợ phí và lệ phí; (iv) Đề án giảm giá điện 11.000 tỷ đồng; (v) Đề án hỗ trợ cước viễn thông và Internet 15.000 tỷ đồng (vi) Hỗ trợ các chương trình 26.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do tác động của đợt bùng phát covid-19 [12].

Ngoài ra, đầu tư công năm 2020 của Chính phủ là 729 nghìn tỷ đồng (chiếm 33,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 14,5% so với năm 2019); năm 2021 là 38.300 tỷ đồng (tính đến tháng 7 năm 2021). Ngân sách nhà nước năm 2020 đạt mức tăng vốn cao nhất trong thời kỳ 2011 – 2020 [10]. Do đó, tổng giá trị sổ sách của gói kích thích kinh tế đến hết năm 2020 là 103,658 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 77,7% tổng thu thuế năm 2019 (140,846 nghìn tỷ đồng, dự kiến ​​lần đầu tiên được trình chiếu vào tháng 7 Năm 2021. Tuy nhiên, chương trình kích thích kinh tế và chương trình hỗ trợ mới chỉ dừng lại ở mức cứu trợ khẩn cấp và tác động của covid-19 sẽ còn tiếp tục. / p>

– Thu ngân sách giảm mạnh: Dịch bệnh covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tâm lý tiêu dùng của xã hội, khiến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm sút. Điều này dẫn đến nguồn thu từ thuế giảm mạnh. Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, hoạt động, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sau dịch, tăng thu ngân sách tài khóa, còn có các chính sách ưu đãi như miễn, giảm, gia hạn thuế. Từ đầu năm 2020 đến ngày 15 tháng 12 năm 2020, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 13.074 nghìn tỷ đồng, giảm 204,9 nghìn tỷ đồng (-13,5%) so với dự toán [10].

– Áp lực chi ngân sách và bội chi gia tăng: Tiếp tục chi cho các chương trình hỗ trợ và kích thích kinh tế để khắc phục tác động của đại dịch covid-19, đồng thời khắc phục hạn hán và xâm nhập nước biển, mưa đá và lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long, gây áp lực lên ngân sách quốc gia các vùng trung tâm tăng. Tổng chi ngân sách nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/12/2020 ước đạt 14.325 nghìn tỷ đồng. Đến ngày 30 tháng 11 năm 2020, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 75% -85% [13]). Áp lực chi ngân sách gia tăng đã khiến mức bội chi tăng lên 265 nghìn tỷ đồng vào năm 2020, tương đương 5,59% GDP (năm 2019 là 3,4% GDP). Nợ công tăng lên 57,4% gdp (Bộ Tài chính kiến ​​nghị, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 14). Bước sang năm 2021, Chính phủ đã chi 694,4 nghìn tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm nay, đạt 41,2% dự báo. Tuy nhiên, hiện nay dịch bệnh bùng phát nghiêm trọng ở TP.HCM và Hà Nội sẽ càng gây áp lực chi ngân sách nhà nước.

2.3. Các vấn đề nợ công gần đây ở Việt Nam

Luật Quản lý Nợ công quy định nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương [14]. Bản chất của nợ công là một khoản vay để bù đắp thâm hụt ngân sách. Đến hạn trả nợ gốc và lãi thì nhà nước phải tăng thuế để bù vào.

– Tỷ lệ nợ công vượt ngưỡng an toàn năm 2020 theo phương pháp tính nợ công / thu ngân sách: Theo cách tính nợ công / gdp, một số chỉ tiêu nợ công của Việt Nam vẫn đạt ngưỡng an toàn. vào năm 2020. : Báo cáo Nợ công giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ cho thấy kiểm soát nợ công / gdp giảm từ 63,7% năm 2016 xuống 55% năm 2019. Năm 2020 là 56,1%. Ngoài ra, một số thước đo nợ công / gdp khác hiện nay khá an toàn (Hình 2).

Hình 2: Các chỉ số một phần Nợ công của Việt Nam năm 2020 (%)

Nguồn: Báo cáo chính phủ

Tuy nhiên, nếu tính theo tỷ lệ nợ công trên thu ngân sách nhà nước, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 368.276 tỷ đồng, chiếm 27,4% thu ngân sách nhà nước năm 2020 (trên ngưỡng 25%). giai đoạn 1016-2020). Vì tỷ lệ là 1/4 ngân sách, tỷ lệ nợ trên gdp không phải là thước đo an toàn. Do đó, việc đo lường tính bền vững của nợ công phải dựa trên tỷ lệ nợ công trên thu ngân sách.

– Áp lực vay và trả nợ: Theo Quyết định số 1130 / qd-ttg của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ sẽ huy động vốn vay để cân đối ngân sách trung ương. Ngoài ra, khoản nợ phải trả vào đầu năm 2021 là 368,276 tỷ đồng, cho thấy nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là khá lớn, chủ yếu là các khoản vay trái phiếu chính phủ trong nước đến hạn năm 2021 (187,001 tỷ đồng). Đồng Việt Nam, chiếm 13,9% thu ngân sách nhà nước) (Bảng 2).

Bảng 2: Áp lực Nợ Ngân sách Trung ương và Nợ Ngân sách Trung ương năm 2021

(Đơn vị: tỷ đồng)

Xem Thêm : Thì tương lai đơn: Công thức, cách dùng và bài tập – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Nguồn: Báo cáo của Chính phủ

– Tỷ lệ nợ công / ngân sách cao sẽ hạn chế nguồn vốn cho đầu tư phát triển và ảnh hưởng đến nhiều mục tiêu khác: năm 2020 cần trên 1/4 ngân sách để trả nợ gốc và lãi vay, không có vốn đầu tư vào sự phát triển. Một lượng vốn kinh tế nhỏ hơn dành cho khu vực tư nhân. Vấn đề này một mặt đè nặng lên dư địa chi đầu tư phát triển và chi vãng lai của ngân sách quốc gia, có thể gây rủi ro cho an ninh tài chính quốc gia và có thể tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính. Thị trường lãi suất thấp hơn cũng góp phần vào lạm phát.

Xem ngay: Nhụy hoa nghệ tây có tác dụng gì cho sức khỏe? – Bác sĩ Lê Phương Tuấn

– Đánh giá khả năng thanh toán nợ: Thu ngân sách của Việt Nam sẽ không thể tăng đáng kể trong giai đoạn tới do không còn dư địa để tăng thu thuế. Bên cạnh đó, nguồn thu ngân sách của chúng ta hiện nay vẫn phụ thuộc vào nguồn thu thiếu bền vững, ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ. Mặt khác, mặc dù tỷ lệ trả nợ của Việt Nam tính theo gdp không cao nhưng nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá cả tăng cao và nếu cpi tiêu dùng không cao thì dự kiến, khả năng trả nợ của Việt Nam sẽ khó đạt được các mục tiêu đã đề ra.

– Nợ công và nghĩa vụ nợ cao sẽ đe dọa khả năng phục hồi của nền kinh tế: Nghĩa vụ nợ khiến không gian ngân sách ngày càng mỏng và nợ công có thể trở nên không bền vững với những cú sốc nhỏ. Ngoài ra, đợt bùng phát COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, với các đợt bùng phát mới xuất hiện, khiến điều kiện kinh tế và tăng trưởng khó lường. Điều này có nghĩa là các khoản nợ tiềm tàng khiến Việt Nam dễ bị tổn thương hơn.

– Cố gắng chi trả cho các khoản kích cầu và đầu tư công có thể khiến kỷ luật ngân sách không được đảm bảo. Đây là điều cần lưu ý, đặc biệt nếu chính phủ đang “bơm nước mạnh tay”.

3. Tác động của Chính sách

Cho đến nay, tất cả các diễn biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới trong thời kỳ đại dịch covid-19 đều làm tăng chi ngân sách. Để đảm bảo an toàn nợ công, cần chú ý các vấn đề sau: (1) Cần xem xét và đánh giá nghiêm túc nợ công và an toàn nợ công, hạch toán nợ theo chuẩn mực quốc tế. ; (ii) đa dạng hóa danh mục nợ, tận dụng các nguồn ODA ưu đãi và phát triển thị trường nợ trong nước thông qua phát triển thị trường sơ cấp và thứ cấp; (iii) đánh giá khả năng thanh toán của các phương án rủi ro có thể xảy ra, chẳng hạn như rủi ro tham nhũng, rủi ro chênh lệch, rủi ro tỷ giá hối đoái và môi trường kinh tế vĩ mô (iv) phân tích rủi ro biến động; phân bổ ngân sách, trao quyền chủ động hơn về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp và chính quyền địa phương; (5) Thiết lập hệ thống chỉ tiêu an toàn về nợ, giới hạn đối với các loại nợ: Tổng nợ công, Nợ nước ngoài, Nợ trong nước Nợ công, Nợ nước ngoài tổng cộng; Cân đối Nợ công bổ sung và Các chỉ số Tỷ lệ Nợ công / Thu ngân sách … (vi) Cải thiện tính toàn diện và minh bạch của ngân sách, đồng thời tăng cường kỷ luật tài khóa trong quản lý nợ công, kế toán và chuyển nguồn báo cáo, Việt Nam thường cao hơn nhiều so với các nước khác, đặc biệt khi số chi được chuyển từ nguồn [15]; (vii) Tăng cường giám sát và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước để chi tiêu công không bị chi phối bởi lợi ích của bất kỳ bộ, ban, ngành hoặc nhóm lợi ích nào. lái xe.

Tham khảo:

[1]. Doanh thu ngành hàng không giảm mạnh do đại dịch covid-19 (2020), truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021, qua: https://caa.gov.vn/hang-khong-the-gioi/iata-dich-covid-19-khien-doanh nghiệp -thus-nganh-hang-khong-lao-doc-20201204105515849.htm

[2]. covid-19 gây thiệt hại 460 tỷ đô la cho du lịch thế giới trong 6 tháng đầu năm 2020 (2020), truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021, từ: https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/printer/34145

[3]. Ngành bán lẻ toàn cầu mất 2,1 nghìn tỷ đô la vào năm 2020 do đại dịch coronavirus (năm 2020), truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021, qua https://go.forrester.com/press-newsroom/forrester-retail- will- see-a-1-2 -trillion-global-in-2020-do-to-coronavirus-đại dịch /

[4]. statin, Coronavirus: Tác động đến ngành bán lẻ toàn cầu – Thống kê và Sự kiện, truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2021. Lấy từ https://www.statista.com/topics/6239/coronavirus-impact-on-the-retail-industry-worldwide/#dossiersummary__chapter1

[5]. UNCTAD (2021), Theo dõi xu hướng đầu tư: Dòng vốn FDI toàn cầu ở mức 42% vào năm 2020, dự kiến ​​kéo dài một tuần vào năm 2021, có nguy cơ phục hồi bền vững

[6]. WTO (2021), Thương mại thế giới đang cố gắng phục hồi mạnh mẽ nhưng không đồng đều sau cú sốc của đại dịch covid-19, truy cập từ https://www.wto.org/english/news_e/pres21_e/pr876_e.html

[7]. ILO (2021), Giám sát ILO: covid-19 và thế giới việc làm. Ấn bản thứ bảy

[8]. Đánh giá tình hình kinh tế toàn cầu năm 2020 và Triển vọng phục hồi năm 2021 (2020), truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021, từ http://hdll.vn/vi/thong-tin-ly-luan/nhin-lai-buc- tranh- king-te-toan -cau-nam-2020-va-trien-vong-phuc-hoi-nam-2021.html

[9]. Tổng cục Thống kê (2019), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2019.

[10]. Tổng cục Thống kê (2020), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV năm 2020.

[11]. 101.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vào năm 2020, truy cập ngày 20/01/2021 https://vneconomy.vn/101-nghin-doanh-nghiep-ngung-kinh-doanh-nam-2020-20201228161746915.htm

[12]. Chính phủ (2020), Nghị quyết 42 / nq-cp ngày 9 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ đồng bào gặp khó khăn do đại dịch covid-19.

[13]. Việc triển khai gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng còn nhiều lúng túng, mời các bạn đón xem ngày 31/1/2021 từ https://baodautu.vn/thuc-hien-goi-ho-tro-62000-ty-dong-con-lung-tung -d132579 truy cập. html.

[14. Luật Quản lý nợ công số 20/2017 / qh14 ngày 23 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[15. nc ngày càng tăng, truy cập 04.02.2020 từ https://thanhnien.vn/tai-chinh-king-doanh/no-cong-ngay-cang-tang-1300752.html

Bài báo trên Tạp chí Thị trường Tài chính và Tiền tệ Số 15, 2021

Xem ngay: Công thức tính vận tốc trung bình dễ nhất 2022

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Công thức

                       

Vậy là đến đây bài viết về Tác động của đại dịch COVID-19 và vấn đề đặt ra cho nợ công ở Việt Nam đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button