Giới Thiệu Hoàng đế, Nhà Thơ Lê Thánh Tông

Tác phẩm của lê thánh tông

Một số điểm hạn chế của Hoàng đế Lê Thánh Tông vĩ đại

tiểu sử của hoàng đế, nhà thơ Lê Thanh Tông

Hoàng đế, Trạng nguyên Lê Thanh Tông, khi còn trẻ, tên là hao, sau đổi là Tử Thanh, sinh ngày 20 tháng 7, năm Nhâm tuất (25 tháng 8 năm 1442, niên hiệu Đại bảo thứ ba. , con út của Lê thái tông (1434 – 1442), sau khi ba anh em nghi dân, khác xương cốt và cốt cán bang cơ. Mẹ của Từ thanh là bà Ngô thị ngọc đạo, con của Ngô tử, vị tổ khai quốc lập quốc. Trong cuộc khởi nghĩa lam sơn, tu thanh lại sinh ra được 14 ngày, ngày 4 tháng 9 âm lịch (1 tháng 9 năm 1442) Lê thái tông đột ngột chết một cách bí ẩn ở li chi viên, dẫn đến vụ án thương tâm của gia đình họ Nguyễn. trai, người anh hùng bình thường lập nghiệp. và có nhiều đặc quyền hơn những người hầu khác. “Truyền thuyết cũng nói rằng ngọc dao đã bị từ chối độ, nhờ nguyễn trai và nguyễn thị luỵ cứu (giúp đỡ, che chở, an sinh: tự thanh tại chùa huy văn, nằm ngoài cung cấm. sau vì bất hạnh, Tư Thành vẫn thích sống ẩn dật giữa nhân dân. Mãi đến năm bốn tuổi, Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh. ông có nhiệm vụ thay con làm vua vùng đồng bằng, trở về cung cấm, sống trong tư dinh của mình, cùng học với các hoàng tử trong triều. Tử thanh khôi ngô, thông minh, biết mệnh nên ngày đêm chăm chỉ học hành, “ở ẩn, không lộ chí khí, chỉ vui với sách cổ, nghĩa thánh… sách” (dai viet historia de la sách hoàn chỉnh). Ông được các quan trong triều lúc bấy giờ coi là người khác thường, Thái hậu Nguyễn Thị Anh thì “cưng như cưng chiều”, còn Nhân Tông Bang Cơ thì được coi là “chị em hiếm có”. Mùa đông năm Kỷ Mão (1459), Lạng Sơn Vương thất tín, con thứ của Lê Thái Tông, lập bè lũ giết mẹ con vua, cướp ngôi vua. vào giữa năm âm lịch (1460), triều thần nổi dậy, phế truất những người nghi ngờ, đón và lập kinh thành làm vua. Tư Thành ở ngôi 38 năm, 10 năm đầu lấy niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469), 28 năm sau đổi niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497). vua tự xưng là thien nam đồng. Đạo Âm Chủ mất ngày 30 tháng Giêng năm Đinh Tị (1497), niên hiệu Hồng Đức thứ 28, được ban thụy hiệu là Thuần hoàng đế. Lê Thanh Tông là vị vua “thông minh, mưu lược, anh hùng, đại lược”, có vai trò nổi bật trong việc củng cố và phát triển nhà nước phong kiến ​​tập quyền theo mô hình Nho giáo. nhà vua rất coi trọng việc xây dựng các chế độ, thể chế, các chương kinh, luật, v.v. quan hệ đối ngoại, trách nhiệm riêng trong công tác đối nội. nhà vua rất quan tâm đến nông nghiệp. Nhiều chính sách khuyến nông, khuyến ngư, khai hoang, lập làng, lập ấp … được ban hành đã làm tăng năng suất lao động của xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tạo dựng xã hội bình yên, thịnh vượng. Về văn hóa, nhà vua đề cao Nho học, mở rộng chế độ thi cử, lập nhà khoa bảng, dựng bia văn, miếu thờ: đề cao Nho học, truyền bá và củng cố hệ tư tưởng phong kiến. Những công trình này tuy có phần phục vụ cho nhà nước phong kiến ​​nhưng cũng có mặt tích cực đối với việc xây dựng và phát triển truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc.

đặc biệt là việc tổ chức và biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, bách khoa toàn thư tuyển tập thien nam du ký, quốc pháp dân tộc, cổ vũ phong trào sáng tạo văn học, lập đàn. , việc khuyến khích sáng tác thơ ca, xuống đường truy tìm dã sử, truyền thuyết để các sử gia tham khảo, rửa oan cho Nguyên trai và lệnh truy tìm di cảo của ông sau vụ án tru di. … tất cả đều có thể coi là những sự kiện, hành vi văn hóa trọng đại, tượng trưng cho một thời kỳ phát triển thịnh vượng của văn hóa dân tộc. le thanh tong đã viết rất nhiều. thơ chữ Hán với văn xuôi và thơ. văn học có văn học nghệ thuật và văn học nghệ thuật. Văn học tiền truyện gồm có hai loại: Văn học tiền truyện gồm hai loại: Văn học tiền sự có tính chất chính luận, như hịch, chiếu, chế, dụ, khuyên học, v.v. chính sách giáo dục đại học của triều đình nhằm khuyến khích các học giả Nho học theo đuổi sự nghiệp chuyên nghiệp. loại hình nghệ thuật ít nhiều có giá trị học thuật, văn học như: liệt kê truyện ngắn, tạp văn, sử ký, nhan đề thơ văn, một số đoạn thơ, bài bình luận, v.v., văn học nghệ thuật, trước hết là lam sơn. phải kể đến luong thuy phu. . Đây là bài văn khổ lớn, gần 400 câu, ca ngợi sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Lê Thái Tổ từ thánh địa Lam Sơn, với phong thái uy nghiêm mà phảng phất nét anh hùng Nguyễn Trãi. le quy don trong bài văn tế tiểu bạch khen đăng: “… khí chất cao quý, lời lẽ sống động như người xưa”. Khác với ấn phẩm giàu có được viết theo phong cách trữ tình, mang dáng vẻ sử thi, Thanh Tòng Di Thảo là một câu chuyện nghệ thuật. tác phẩm do người đời sau biên soạn, nhưng không rõ là ai. cuối mỗi truyện đều có lời bình của chú con trai, chưa lộ rõ ​​lai lịch. Tương truyền tác phẩm thuộc về Lê Thánh Tông, nhưng xem xét kỹ hơn cho thấy Lê Thánh Tông có thể chỉ là tác giả của một vài trong số 19 truyện. một số truyện có lẽ do người nguyễn biên tập và một số truyện khác có thể do người nguyễn viết. Một số ghi chép về huyện Thanh Tông ở đây được viết theo phong cách thanh cao, có tính nghệ thuật và nội dung tư tưởng mạnh mẽ phù hợp với thời kỳ và các tác phẩm khác của Pera Saint Tong. do đó, truyền thuyết không phải hoàn toàn không có cơ sở nên có thể coi tác phẩm là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của thể loại tự truyện chữ Hán.

tác phẩm của hoàng đế và nhà thơ Lê Thanh Tông

Xem Thêm : Văn học trung đại Việt Nam là gì? Khái quát và hướng dẫn ôn tập

Lê Thanh Tông đã viết nhiều bài thơ chữ Hán, viết từ lúc còn nhỏ đến lúc về già, trước khi qua đời, nhân dịp viếng mộ tổ tiên ở lam sơn, trong khi đi du lịch: thăm những nơi đẹp như tranh vẽ, viết về những chuyến du lịch, thám hiểm, khi ông đã hào hứng hát với chữ thần, khi có nhu cầu bộc lộ, bộc lộ cảm xúc, v.v. rác rưởi trong mấy chục tập sách Hán ngữ và “khắc trên bia, trên vách đá… trong số 9 tập thơ còn có tên thì chỉ có 6 tập là: cháu nội giải thưởng, chinh tay ký hanh, minh. thuồng cẩm tuồng, cổ văn ”. trung úy, quynh duyen cuu ca, tim xưa bach bay có thơ để lại. ba tập: Đạo hiếu của anh hoa, Cổ kim cung tự thi, Xuân văn thi, không tìm thấy thơ, có thể đã mất hoặc còn sống, nhưng lẫn trong nhiều sách có thơ của anh. không rõ tập thơ, chiếm chưa đến một nửa số thơ còn lại. với tập thơ chữ Hán trước đây, Lê thanh tông là tác giả viết nhiều nhất trong các tác giả văn học nửa sau thế kỷ XV.

Trong số các tập thơ chữ Hán của Lê Thanh Tông, Quyển truyện là tác phẩm mà Lê Thanh Tông chỉ có 9 bài thơ, còn lại hàng trăm bài thơ là từ các chữ thân trong đàn tế. tao dan là tên của một diễn đàn văn học được thành lập vào năm nhân dân (1494). Theo truyện và sử sách, nhân hai năm ngưu (1493) và dần (1494) mùa thu hoạch, nhà vua cho tập hợp 28 chữ thần, ứng với 28 ngôi sao ở bốn phương gọi là mười hai tám tư, hát họa mừng được điểm từ trời cao, khoảng 9 nên tài được gọi là quynh uyển cửu ca. nhà vua tự xưng là tao đàn gốc, viết 9 bài thánh ca, 28 chữ thần trong viện sơn trang 9 đề tài, số bài thơ sẽ là: 29 × 9 = 261 bài, nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 250 bài, với các bài thường. tên tập thơ là Quynh uyển cửu ca. sự xuất hiện của hội tao đàn đánh dấu bước phát triển mới của trào lưu văn học cung đình. các tác phẩm của hội chỉ có một tập thơ viết bằng thơ lục bát và hai bài trước, một từ Lê thanh tông, một từ Dao cho, không có tuyển tập thơ nào khác. hội tao đàn là hội nhà văn chính thức đầu tiên trong lịch sử văn học, khác với tao đàn địa phương như xã bạch dương ở các triều đại phương đông thời nhà trần hay hội văn nghệ dân tộc ở hà tiên thế kỷ 20 xvii. thế kỷ.

phần còn lại của thơ văn và văn chương của Lê thanh tông gồm năm sáu trăm bài thơ lục bát và có thể là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt: Mười điều răn của tinh thần quốc ngữ (mười điều răn dạy tâm hồn viết chữ quốc ngữ. ). Vở kịch bao gồm II Bài học, Một Bài học Mở đầu và Mười Điều răn của Mười Loại Ma. Cuối mỗi bài có một bài thơ bảy chữ, tám dòng hoặc sáu dòng, tổng cộng dưới 300 câu văn và 80 câu ngắn trong 10 bài thơ. tác phẩm được viết ra nhằm mục đích giáo huấn, mượn lời răn dạy của tâm hồn để ca ngợi, phê bình, đề cao hay phê phán mười hạng người trong xã hội, dựa trên đạo đức và quyền lợi của nhà nước phong kiến. Các quan lại, các học giả Nho giáo và các tướng lĩnh được ca ngợi, trong khi các nhà sư thông thái, đạo sĩ, nhà vật lý thiên văn, thầy thuốc, thương nhân cổ đại, nữ hoàng hoa và cư sĩ bị chế giễu và tàn sát. Mặc dù vẫn còn nghi ngờ về văn bản và tác giả của tác phẩm, nhưng nhiều học giả cho rằng tác phẩm có ngôn ngữ cuối thế kỷ XV và có lẽ là lê thanh tông.

Xem Thêm : Truyện đồng thoại Võ Quảng – Triết lý hồn nhiên mà sâu xa – Báo Người lao động

Danh sách thơ lục bát gồm nhiều bài thơ trong Hồng đức: Tiếng thơ và trong một số sách khác. hong duc quoc am thiet là một tuyển tập các bài thơ danh nghĩa của các tác giả thời Hồng đức (1470 – 149?) chứ không phải là tác phẩm của hiệp hội tao đàn, mãi đến năm 1494. hong đức quốc: bài thơ cảm âm của tuyển tập không ghi rõ tên tác giả trong tập thơ và từng bài thơ, mà căn cứ vào nội dung tư tưởng, cách ngâm vịnh, bức họa giữa tôi và vua tôi, mối quan hệ giữa bài thơ và một số tuyển tập của Những bài thơ danh nghĩa ngoài đó còn có những bài thơ lục bát cổ điển, các nhà nghiên cứu đã có thể trích ra khoảng năm mươi sáu mươi bài thơ lục bát. Hy vọng trong tương lai, nhiều bài thơ cổ điển thanh tông sẽ được tìm thấy và sưu tầm. Như vậy, trong nửa sau thế kỷ 20, Lê Thánh Tông không chỉ là tác giả làm thơ bằng chữ Hán nhiều nhất mà còn là tác giả viết nhiều thơ bằng chữ Hán nhất. Vào thời kỳ mà chữ Hán và văn học bác học đang phát triển mạnh mẽ, văn học và văn học du mục vẫn còn ở vị trí thấp như vậy, sự ủng hộ và khuyến khích của nhà vua đối với phong trào sáng tác thơ ca du mục đã diễn ra nhanh chóng. thơ lục bát luật (đại Việt sử ký toàn thư), viết nhiều thơ văn tế, văn chương… thể hiện thái độ tin tưởng, tôn trọng ngôn ngữ văn học dân tộc. cùng với văn hiến,: hộ lý … trước đó là các thể, các trinh: doanh, quang trung, tư đức .. về sau, nhiều vua Việt đã có thái độ đúng đắn đối với văn học du mục, đó là điều đã có. chúng tôi đã bối rối. Là một tác gia lớn của nền văn học nửa sau thế kỉ XV, Lê Thánh Tông đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả cho sự phát triển của nền văn học dân tộc. Trước le thanh tông, văn học có những đặc trưng cơ bản là lịch sử, truyền cảm, âm hưởng chính là khẳng định dân tộc. khẳng định dân tộc thực chất là khẳng định độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của quốc gia, khẳng định nền văn hiến Đại Việt, chống lại âm mưu và hành động xâm lược, đồng hóa của các đế quốc phương Tây. các tác giả và tác phẩm chính của thời kỳ này liên quan đến các cuộc chiến tranh chống xâm lược và đô hộ, loại hình văn học lý tưởng là anh hùng vệ quốc. Bắt đầu từ le thanh tông, những đặc điểm cơ bản, cảm hứng và âm hưởng chủ đạo của sáng tạo văn học là điều đã được khẳng định. chính quyền quốc gia phong kiến ​​tự chủ, thống nhất theo mô hình Nho giáo. Thực chất của câu nói này là xây dựng một nhà nước phong kiến ​​hùng mạnh, đủ sức tổ chức sự nghiệp bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi, đẹp trừ bạo loạn, đề cao trách nhiệm của triều đình, vua quan, quan lại Nho giáo, quan liêu vì nước, vì dân. , là đề cao văn hóa dân tộc mà cốt lõi là ý thức độc lập tự chủ, khát vọng hòa bình, hạnh phúc, ngợi ca lịch sử hào hùng. , sông gấm vóc…. đồng thời cũng tôn trọng Nho giáo, tôn trọng đạo đức phong kiến, đề cao phẩm hạnh của chế độ, vua quan, giữ gìn trật tự, lễ nghi phong kiến, v.v. , hệ thống phong kiến ​​thống nhất và tập trung. với nội dung như vậy, loại hình sáng tác văn học lý tưởng là nhà kinh tế thế giới, trạng thái của nền kinh tế quốc dân. Hầu hết các tác giả là các quan lại Nho học, tiêu biểu nhất là vua Nho học Lê Thánh Tông. các tác phẩm của ông thể hiện tập trung nhất, đặc sắc nhất, phong phú và đa dạng đặc điểm lịch sử của bước phát triển mới này trong lĩnh vực sáng tác văn học.

Cũng do vị trí của Nho giáo, các nhà Nho sáng tác văn học mà văn học Nho giáo trở thành chính thống và chính thống. le thanh tong trong quynh duyen cuu ca khi thành lập hội tao đàn đã nói theo cách riêng của mình về quan niệm văn và đạo, trong thơ nhà thơ đã lý tưởng hóa nhà thơ ở cái đức của dân, đem về mùa xuân. điều hòa khí hậu cho cuộc sống. và bằng cách vận dụng quan niệm nghiên cứu Nho học trong sáng tác văn học dân tộc, Lê thanh tông đã phát triển thơ ca ngợi thiên nhiên thành những bài ca vừa vẻ vang, hào hùng, mang đầy hình ảnh đất nước, phồn vinh. của con người thiên tài, ở phương nam, trong uy nghiêm, trong uy nghiêm, cổ xưa, vĩnh hằng… cuộc sống vừa hiện thực vừa bình dị của muôn dân một thời thái bình, thịnh trị, phồn vinh, thái bình và công cao. đại đức của bậc đế vương đã từng nhân hậu: “nhà nam bắc đều đủ mặt, nổi tiếng ca dao thái bình”. Lê Thanh Tông cũng nổi bật khi lần đầu tiên ông dùng chữ nôm để viết bài thơ vịnh nam tử, vinh danh anh hùng vệ quốc, danh nhân văn hóa, và khi ông khuyến khích sáng tác thơ vịnh nam tử. , vốn chỉ ngẫu hứng với một vài bài trong tản văn: phong trần, tập thơ hàng trăm bài như tấm lòng thiên cổ của chính thi nhân. Lê Thanh Tông đặc biệt trưởng thành, điêu luyện và sáng tạo trong lĩnh vực thơ cổ điển. tháp văn chương địa linh nhân kiệt vững vàng, tích cực sử dụng chữ quốc ngữ, sáng tạo nên nhiều chân dung văn học chân thực, sinh động về các thương nhân xưa, đăng tử, hoa hương, v.v. Liên quan đến âm nhạc của Hồng Đức quốc âm thi tập cũng có những đóng góp chân thực và độc đáo. Lê Thánh Tông là tác giả đầu tiên sử dụng thơ Nôm để viết về các địa danh, nhân vật lịch sử trong nước, điều mà các bài thơ trước đó của Nguyễn Trãi không có được. Thơ Nôm viết về đề tài này thường lưu truyền hình ảnh sông núi đất nước, tranh Nam quốc, Nam thiên hạ chứa đầy cảm hứng lịch sử về biên cương, danh lam, thắng cảnh, di tích. Lê thanh tông còn là tác giả của nhiều thánh vịnh về những điều bình thường và những con người nhỏ bé, như: vịnh về dưa, khoai, rau; cái rổ, cái nón, cái đó, cối xay gió, xích đu, táo bếp, cóc, rận, kiến, muỗi, ăn mày, bù nhìn, v.v. Nó được coi là một thể thơ truyền khẩu, nhưng tính chất và ý nghĩa thẩm mỹ của nó là một loại thơ thánh vịnh uyên bác, có khuynh hướng mộc mạc, giản dị, thường coi việc nhỏ nói lớn, coi trọng việc và người. không phải để biện minh cho tuổi thơ không lay chuyển của nhà vua. cuối cùng, thơ thanh tông, cũng như trường ca hồng dực, cũng có nhiều sáng tạo về hình tượng nghệ thuật về đất nước, đất nước, ánh mắt anh hùng, liệt nữ, thậm chí cả hình tượng nghệ thuật về những người cha, người dân, những người lính canh. biên giới. Đặc biệt, Lê Thánh Tông, kế vị Nguyễn Trãi, đã đề cao chủ nghĩa dân tộc và dân chủ hóa trong lĩnh vực ngôn ngữ văn học. Đó không chỉ là việc tiếp nối những từ ngữ, những tác phẩm kinh điển của Việt Nam mà còn là việc Việt hóa thơ Đường thành ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, đặc biệt bằng cách sử dụng rất sáng tạo nhiều loại từ trùng lặp, trùng lặp … và loại từ mang giọng điệu trào phúng, trào phúng. . Lê Thanh Tông là tác giả thứ hai, sau nguyễn trai thế kỷ 15, ông có nhiều nghiên cứu và sáng tạo trong sáng tác thơ lục bát. Cùng với những thành tựu về thơ chữ Hán, Lê Thánh Tông xứng đáng là tác gia xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam.

tham khảo các nhà văn, nhà thơ và tác giả khác

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn Học

Related Articles

Back to top button