Top 4 bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến hay chọn lọc

Bạn đang quan tâm đến Top 4 bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến hay chọn lọc phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

phân tích khổ thơ đầu tiên về miền tây

Phân tích đoạn đầu bài thơ Tây Quang Dũng gồm những bài văn mẫu phân tích khổ thơ đầu hay và chi tiết nhất giúp các em học sinh có thêm tài liệu tham khảo hay. sau đây là phần tổng hợp phân tích tập tây được chọn lọc đầu tiên, mời các bạn theo dõi.

Bạn đang xem: Bài văn phân tích đoạn 1 tây tiến

1. phân tích miền tây quang dũng – mẫu 1

Quang Dũng (1921-1988) là một nghệ sĩ đa diện với tâm hồn phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. “tây tiến” là bài thơ tiêu biểu của đời thơ và thể hiện sâu sắc phong cách thơ quang dung. có thể nói, tinh hoa của bài thơ được góp nhặt trong khổ thơ đầu. khổ thơ đã tạo nên một hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ và tươi đẹp của núi rừng miền Tây, nơi nhà thơ và đoàn quân miền Tây đã từng lao động và chiến đấu.

sông ma ở rất xa và ở phía tây!

nhớ rừng, nhớ chơi vơi

sai khao khát để lấp đầy đội quân mệt mỏi

những lát hoa muồng về đêm

leo lên những khúc cua dốc

heo hút mây, súng ngửi trời

hàng ngàn bộ trên, hàng ngàn bộ bên dưới

nhà ai đang mưa

bạn không đi bộ nữa

ném súng và quên đi cuộc sống!

buổi chiều gầm thét hùng vĩ

vào ban đêm, con hổ làm trò cười cho mọi người

hãy nhớ, chúng ta hãy hút cơm

mai tạm biệt là mùa bạn thơm mùi gạo nếp.

bài thơ “tây tiến” được sáng tác vào năm 1948 tại quê hương chanh, khi nhà thơ đã rời đơn vị cũ chuyển đi đơn vị khác. Tây Tiến là đơn vị bộ đội chống Pháp được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với Bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, tiêu hao quân Pháp ở Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam. địa bàn hoạt động của bộ đội miền tây rất rộng lớn, trải dài từ sơn la, tây thanh hóa đến sam nua (lào): hiểm trở, sa mạc, rừng thiêng, nước độc. Lính Tây đa số là thanh niên Hà Nội, có nhiều học sinh, sinh viên, trong đó có Quang Dũng. họ sống và vật lộn trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan, anh dũng. sau khi hoạt động hơn một năm, đơn vị phía tây trở lại bình yên và thành lập trung đoàn 52.

bài thơ ra đời từ nỗi nhớ của Quang Dũng, những kỉ niệm, những kỉ niệm về đồng đội và chiến trường xưa. sau khi ra đời, tác phẩm đã được nhiều thế hệ bạn trẻ và những người yêu thơ viết tay tìm đọc. năm 1986, bài thơ được đăng trong tập thơ “mây và ô” (xuất bản năm 1986). lúc đầu bài thơ có tên là “nhớ tây”, sau đó tác giả đổi thành “tây”. nhan đề “Tây tiến” đảm bảo tính súc tích của bài thơ, không cần trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ, nhưng tình cảm ấy vẫn xuyên suốt một cách sâu lắng, thấm thía. nhan đề cũng làm nổi bật hình ảnh trung tâm của tác phẩm là hình ảnh đoàn quân tây tiến. việc bỏ từ “nhớ” đã làm thay đổi vĩnh viễn quân Tây, khiến hình tượng người lính Tây trong thơ ca kháng chiến Việt Nam trở thành bất tử.

“Tây tiến” là bài thơ thể hiện đậm nét phong cách tài hoa, lãng mạn, phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng. tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với người lính miền Tây với vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng. khổ thơ đầu đã tái hiện một cách sinh động dấu ấn thiên nhiên miền tây với những cảnh vật và những cuộc hành quân gian khổ, từ đó hình ảnh những người lính miền tây cũng lần lượt hiện lên.

bài thơ mở đầu bằng một làn sóng hoài niệm:

sông của tôi ở xa, hãy đi về phía tây!

nhớ rừng, nhớ chơi vơi

Lời kêu gọi “hướng tây” được thúc đẩy bởi một niềm khao khát sâu sắc và cuồng nhiệt không thể kìm nén được. đối tượng của nỗi nhớ ấy tất nhiên rất cụ thể: “sông ma”, “miền tây”, “rừng”. nỗi nhớ ấy phải đau lắm mới được tác giả lặp lại hai lần từ “nhớ”. “nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ bập bùng chân thực, lúc nghiêm trang, thường trực, mênh mang, đầy ám ảnh, vừa mở ra không gian của tiềm thức, vừa gợi không gian nhấp nhô của núi đèo bao la. . vần “ôi” làm cho câu thơ như vang vọng, phù hợp với nhiều cung bậc cảm xúc.

Hai dòng đầu của bài thơ đã mở ra sợi dây chung của cả bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi. nỗi nhớ đó trở nên cụ thể từng chút một trong những câu thơ sau.

Hai câu thơ sau gợi lại hình ảnh đoàn quân hành quân trong đêm:

“sương phủ đầy đoàn quân mệt mỏi,

những lát hoa mường trở về trong đêm ”

hai câu vừa hiện thực vừa lãng mạn. những từ chỉ địa danh sai khao, mường vĩ gợi ra một vùng đất rộng lớn và xa lạ đối với những người lính phương Tây. màn sương dày đặc từ trên cao như bao trùm những con đèo, nuốt chửng cả đoàn quân đang mệt mỏi rã rời sau chặng đường dài gian khổ. quang dung đã nhìn thấy và miêu tả một hiện thực tiềm ẩn trong thơ ca kháng chiến. nhưng những người lính ấy dù mệt nhưng vẫn trẻ trung, hiên ngang, lạc quan và yêu đời. hình ảnh “hoa ban hơi khuya” là một hình ảnh đẹp và giàu sức gợi. Đó có thể là những ngọn đuốc sáng trưng của đoàn quân tiến về làng, cũng có thể là hình ảnh đoàn quân ra khỏi rừng, trên tay vẫn cầm những bông hoa rừng thơm ngát, cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoàn quân tây tiến. thích hoang dã. hoa mà đoàn quân hành quân trong một “đêm hơi” đầy bảng lảng, mơ hồ và sương khói nơi rừng núi. hai câu thơ ghi đậm nét tài hoa, lãng tử của quang dung.

Bốn câu thơ sau đây mô tả địa hình hiểm trở ở phía tây:

đi lên khúc cua, dốc đứng

nuốt rượu, ngửi bầu trời,

hàng ngàn bộ trên, hàng ngàn bộ bên dưới,

nhà ai ở xa đang mưa.

nhà thơ sử dụng hàng loạt từ tượng hình “khúc khuỷu”, “sâu lắng”, “ngọt ngào”, kết hợp với nhịp 4/3 như cắt đôi câu thơ, mật độ thanh dày đặc. khiến đoạn thơ trong câu thơ gợi lên nỗi vất vả, nhọc nhằn. những vần thơ ấy gợi mở trong tâm trí người đọc những ấn tượng về những bất trắc, hiểm nguy tiềm ẩn, hiểm trở, gập ghềnh của núi cao, vực thẳm nơi núi rừng miền Tây. hình ảnh “khói súng” là một sự nhân cách hóa táo bạo gợi tả những sườn núi hùng vĩ. Người lính miền Tây leo lên đỉnh dốc, cảm giác như mũi súng chạm mây. Từ đó, chúng ta cũng thấy được nét vui tươi, khỏe khoắn, vẫn có thể vô tư vui chơi sau một chặng đường hành quân vất vả, mệt mỏi của những người lính miền Tây. sự tương phản “nghìn mét trên – nghìn mét dưới” càng nhấn mạnh sự khắc nghiệt, khắc nghiệt của thiên nhiên miền Tây. ba câu thơ giàu chất tranh, dựng lên hình ảnh sa mạc, sườn núi gãy khúc, hùng vĩ trên đường hành quân của người lính miền Tây. câu thơ thứ tư là bảy thanh với “nhà ai hòa mưa biển” vần mở “ơi” đặt ở cuối câu tạo cảm giác nhẹ nhàng, gợi những giây phút nghỉ ngơi, thư thái của người lính. họ đứng trên đỉnh núi, tận hưởng chút bình yên, vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng, đến gần hơn và ngắm nhìn màn mưa mờ ảo nơi bản làng xa xôi. bốn dòng gợi lên vẻ hoang sơ dữ dội, thanh bình của núi rừng và những cuộc hành quân gian khổ, mệt nhọc nhưng tràn đầy sức trẻ và sức sống của những chàng trai miền Tây.

Những người lính tiến về phía tây không chỉ đối mặt với dốc đứng, vực thẳm mà còn phải chịu nhiều tổn thất và hy sinh:

bạn tôi không đi bộ nữa,

rơi vào vũ khí và quên đi cuộc sống.

con đường tránh cái chết “đi không nổi nữa”, “sống quên mình” gợi tư thế ngạo nghễ của người lính miền Tây. họ chủ động chấp nhận cái chết, coi nó đơn giản như một giấc mơ. tư thế hy sinh “rơi súng” thật xót xa nhưng cũng thật anh dũng. hình ảnh người chiến sĩ anh dũng hy sinh sau này được nhìn thấy trong “hiên ngang Việt Nam”: “hy sinh khi đứng bắn, máu phun lửa cầu vồng”. bài thơ tiếp tục mang cảm hứng bi tráng khi xây dựng chân dung người lính miền Tây. còn người lính miền tây vẫn thử thách bởi núi rừng phía tây:

“một buổi chiều hùng vĩ ầm ầm,

vào ban đêm, những con hổ làm trò cười cho con người. ”

các từ ngữ chỉ tần suất lặp lại của thời gian “chiều”, “đêm” kết hợp với biện pháp nhân hoá “thác gào”, “hổ rình mồi” đã nhấn mạnh vẻ huyền bí, dữ tợn, hoang dã đầy hiểm nguy, cái chết luôn rình rập. đe dọa người lính của núi phía tây. mối nguy hiểm đó không chỉ phân tán trong không gian mà còn kéo dài và lặp lại thường xuyên trong thời gian. hai dòng cuối của bài thơ đột ngột chuyển cảnh:

hãy nhớ, hãy hút cơm,

mai tạm biệt là mùa bạn thơm mùi gạo nếp.

núi cao, rừng núi lùi xa, chỉ còn lại hương vị ấm áp của tình quân dân lan tỏa từ nồi cơm lam của các cô gái Thái. từ cảm thán “nhớ ơi” ở đầu câu thơ thể hiện nỗi nhớ da diết, ám ảnh của quang dũng cũng như người lính miền tây xưng hô với người dân miền tây. lòng nhà thơ đau nhói khi nhớ lại cảnh đoàn quân quây quần bên nồi xôi thơm phức. Đó là những khoảnh khắc ngắn ngủi, ấm áp nhưng ngọt ngào, tinh tế nên mãi khắc sâu trong tâm trí nhà thơ. sự kết hợp của từ “mùa em” thật độc đáo và gợi lên những liên tưởng đẹp đẽ, lãng mạn về những cô gái Thái đảm đang, nhân hậu, nhưng đằm thắm. hai dòng kết thúc khổ thơ đầu của bài thơ miền Tây có giọng điệu nhẹ nhàng gợi cảm giác ấm áp, thư thái, tạo tâm trạng cho người đọc khi cảm nhận đoạn thơ sau.

Ở những câu thơ còn lại, nhà thơ quang dũng tiếp tục nhớ về những đêm liên hoan văn nghệ thắm tình quân dân, những buổi tối bên sông nước miền Tây thơ mộng, hư ảo, nhớ nhung chân chất của con người. tập thể những người lính miền tây dũng cảm và dũng cảm. Cuối bài thơ, Quang Dũng bày tỏ lời thề nguyện ở lại với Tây đoàn quân.

Xem ngay: TOP 34 mẫu Bài viết số 1 lớp 11 siêu hay

Khổ thơ đầu của bài thơ Miền Tây thể hiện tài năng và tâm hồn lãng mạn hào sảng của nhà thơ Quang Dũng. bài thơ có ngôn ngữ giàu hình tượng, giàu nhạc điệu, đậm đà ấn tượng, tạo nên hình ảnh sinh động, sâu sắc về cảnh đoàn quân tây tiến trên nền thiên nhiên núi rừng hùng vĩ. Qua ông, chúng ta cảm nhận được tình cảm gắn bó sâu nặng, niềm khát khao thiết tha của nhà thơ Quang Dũng đối với những ngày tháng chiến đấu trong đoàn quân Tây tiến, một thời để nhớ và tự hào mãi mãi.

2. phân tích miền tây quang dũng – mẫu 2

Xem Thêm : Bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc – Văn 7

quang dung là một nhà thơ tài hoa và lãng mạn. Bài thơ Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu trong sáng tác của Quang Dũng. Quang Dũng viết Hướng Tây năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một thị trấn ven sông Đáy êm đềm. cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ về đồng đội thân yêu, nỗi nhớ về đoàn quân miền tây, về bản mường và núi rừng miền tây, về những kỉ niệm đẹp của chiến tranh … nói lên nỗi nhớ ấy, bài thơ đã ghi dấu ấn hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam, của những “chiến sĩ anh hùng” trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp gian khổ và oanh liệt.

Western tien ‘là tên một đơn vị quân đội hoạt động trên biên giới giữa Việt Nam và Lào, tỉnh miền tây thanh hóa, hòa bình. Quang dũng là một đại đội trưởng của “đội quân tóc xù” ấy, đã từng vào sinh ra tử cùng những người đồng đội thân yêu của mình.

Hai dòng đầu nói về nỗi nhớ nhung nhớ miền tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông ân tình:

sông ma ở rất xa và ở phía tây!

nhớ rừng, nhớ chơi vơi.

đã “một chặng đường dài” nên nỗi nhớ không nguôi, nhớ da diết, là nỗi nhớ “chơi vơi”. tiếng gọi “về tây” vang lên réo rắt như tiếng gọi người thân. của “ouch!” vần với từ “chơi vơi” tạo nên câu thơ trầm bổng, ngân vang, ngân vang trong lòng người suốt thời gian, trải dài miên man trong không gian. hai từ “xa” như một tiếng thở dài bâng khuâng, đáp lại sự ám chỉ “nhớ” ở câu thơ thứ hai, thể hiện một tình cảm đẹp đẽ của người chiến sĩ miền Tây đối với sông Mã và núi rừng miền Tây. . sau cuộc gọi đó, biết bao kỷ niệm về một thời khốn khó vụt qua trong tâm trí tôi.

Những câu thơ sau đây nói về cuộc hành quân đầy thử thách và gian khổ mà đoàn quân miền tây đã trải qua. những tên thị trấn, tên mường: sai không, mường vĩ, pha luồng, mường hịch, mai châu… được nhắc đến không chỉ gợi nhiều hoài niệm mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, quyến rũ và hoang sơ. núi non cốc… gợi sự tò mò, háo hức của những chàng trai “từ khi cầm gươm bảo vệ tổ quốc – ngàn năm thương nhớ mảnh đất thăng long”. đoàn quân hành quân trong sương mù giữa núi rừng:

sai khao khát được che chở cho đội quân mệt mỏi,

những lát hoa mường trở về vào ban đêm.

bao nhiêu ngọn núi cao, đèo cao, dốc dựng đứng ở mặt trận mà những người lính miền Tây đã phải vượt qua.

lên dốc là “uốn cong” gập ghềnh, xuống dốc là “sâu” như thể dẫn đến một vực thẳm. các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “ngọt ngào” diễn tả những khó khăn, gian khổ của con đường hành quân chiến đấu: “tựa khúc quanh co, dốc đứng, hút mây ngửi trời! . đỉnh núi cao mù sương. vũ khí của người lính được nhân hoá để tạo nên hình ảnh: “vũ khí ngửi trời” vừa giàu chất thơ, vừa mang vẻ đẹp lãng mạn, gợi cho ta rất nhiều chất thơ. khẳng định ý chí, quyết tâm của người chiến sĩ chiếm mọi đỉnh cao, địa chỉ “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi rừng và những con đèo như thử thách lòng người: “trên cao ngàn thước, dưới ngàn thước”. hết dốc ngược xuôi, từ thấp lên cao, hết bậc này đến đoạn dốc khác, không dứt điểm. đoạn thơ được cấu tạo bởi hai vế câu: “trên cao ngàn thước // dưới ngàn thước”, hình ảnh thơ cân đối hài hòa, tả cảnh núi rừng hùng vĩ, thể hiện ngòi bút đầy tâm hồn của nhà thơ. . .poet – người lính.

có cảnh đoàn quân đi dưới mưa: “mưa xa nhà ai”. câu thơ được dệt bằng những dải liền nhau, thể hiện sự ngọt ngào, tươi mới của tâm hồn những người lính trẻ dù gặp nghịch cảnh vẫn lạc quan, yêu đời. trong cơn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến sĩ đi về phía Tây vẫn hướng về những bản mường, những ngôi nhà nhân ái, nghĩa tình của đồng bào, nơi họ sẽ đến, mang xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ, gìn giữ. .

Chúng ta trở lại câu trước, khó khăn không chỉ là núi cao, dốc đứng, không chỉ có mưa xối xả, mà còn có tiếng hổ gầm nơi rừng thiêng nước độc, đại mạc:

>

buổi chiều gầm thét hùng vĩ

Xem Thêm : Tả đêm trăng đẹp lớp 5, bài văn miêu tả đêm trăng rằm trung thu ở quê em thành phố 2023

vào ban đêm, con hổ làm trò cười cho mọi người.

“Chiều…” và “đêm” luôn có những tiếng gầm thét, những âm thanh này khẳng định bí mật, sức mạnh khủng khiếp của rừng thiêng. Cái chất hào hùng của thơ Quang Dũng là dùng cảnh núi rừng miền Tây hiểm trở để tô đậm và khắc họa khí thế hào hùng của đoàn quân tiến bước. mỗi câu thơ đều để lại trong lòng người đọc ấn tượng: khó khăn tột cùng nhưng cũng dũng cảm tột cùng! đoàn quân cứ thế tiến lên, nối tiếp nhau tiến quân. sức mạnh của thiên nhiên dường như bị suy giảm và giá trị của con người dường như được nâng lên một tầm cao mới. Quang dũng cũng nói về sự hy sinh của những người bạn đồng hành trong những chuyến hành quân vô cùng gian khổ:

bạn không đi bộ nữa

rơi vào tay súng và quên đi cuộc sống …

Thực tế của chiến tranh luôn là như vậy! sự hy sinh của một người lính là không thể tránh khỏi. máu đổ để xây tháp tự do. bài thơ nói về mất mát và hy sinh, nhưng không có một chút đau buồn hay bi kịch nào.

hai câu cuối của bài thơ, cảm xúc rưng rưng, ​​như lời nhắn nhủ của một khúc tình ca, như tiếng hát của một khúc ca hoài niệm, vừa xót xa vừa tự hào:

hãy nhớ, chúng ta hãy hút cơm

mai tạm biệt là mùa bạn thơm mùi gạo nếp.

“hãy nhớ tôi!” đó là tình cảm dạt dào, là tiếng nói của những người lính miền tây, “đoàn quân không mọc tóc”. những vần thơ thấm đẫm tình quân dân. Bạn đã bao giờ quên hương vị của người mường với “cơm lam khói”, với “xôi thơm mùa”? hai chữ “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thơ, chứa đựng bao nỗi niềm nhớ nhung, âm điệu trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp. ông cũng nói về hương nếp, xôi chè, về “gia vị” và tình quân dân, rồi ông viết bài hát về con tàu.

Tôi nắm tay bạn khi kết thúc chiến dịch

bóp xôi để nuôi quân tôi ẩn mình giữa rừng … đất trời tây bắc không có lịch

bữa cơm nếp đầu tiên vẫn tỏa hương thơm.

“nhớ hương thơm”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “hương xôi thơm” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ công ơn, nhớ tấm lòng cao cả của những con người Tây Bắc thân yêu. .

p>

Mười bốn câu thơ trên là phần đầu của bài Tây tiến, một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong chín năm kháng chiến chống Pháp. một bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ dũng cảm, lạc quan, dấn thân máu lửa với niềm tự hào “ra chiến trường không tiếc đời xanh…”. đoạn văn để lại dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà thành công của nó nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đã nửa thế hệ trôi qua, bài thơ tây quang quảng cáo vẫn giữ nguyên giá trị.

3. phân tích miền tây quang dũng – mẫu 3

Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, làm thơ, vẽ tranh, viết văn và soạn nhạc, nhưng thành công nhất là thơ. là nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp với tâm hồn lãng mạn, tài hoa, thơ giàu nhạc tính, chất phác, được mệnh danh là nhà thơ của “xứ sở mây trắng” với những tác phẩm nổi tiếng như: “mây và đầu”, “quang dung thơ” … trong đó tiêu biểu là bài thơ “tây tiến”. Bài thơ không chỉ là niềm khao khát của đoàn quân miền tây mà còn miêu tả rõ nét cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân miền tây và thiên nhiên miền tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội qua bài thơ:

<3

cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ da diết, trải dài cả không gian và thời gian:

sông ma ở rất xa và ở phía tây!

nhớ chơi với núi

sai khao khát để lấp đầy đội quân mệt mỏi

những lát hoa muồng về đêm.

nỗi nhớ về đoàn kết xưa đâm chồi nảy lộc, không thể nào kìm nén được, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng. hai chữ “chơi vơi” như vẽ nên một trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình dung nỗi nhớ, tạo nên cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng rậm… hiện lên trong những câu thơ sau:

đi lên một khúc cua dốc

ngửi rượu, ngửi trời

hàng nghìn mét trên cao, hàng nghìn mét dưới đây

nhà ai ở xa đang mưa.

Khổ thơ này là một bài kiểm tra “hình ảnh thơ”. Chỉ với bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh hoành tráng miêu tả cảnh núi rừng Tây Bắc hiểm trở, dữ dội, hoang sơ và đầy quyến rũ, địa bàn hành quân của đoàn quân Tây Bắc. hai câu thơ đầu, từ ngữ đẩy dũng tạo hình xoáy sâu. những cồn cát, những hẻm núi ngút trời đã lột tả chính xác sự hiểm trở, trập trùng, ngút trời của núi rừng Tây Bắc. hai chữ “ngửi trời” được sử dụng rất hồn nhiên và cũng rất đậm nét, vừa tinh nghịch của người lính. những ngọn núi cao như chạm mây, mây trôi trên những đụn cát “ngọt ngào”. người lính trèo lên những ngọn núi cao như đi trên mây, mũi vũ khí vươn cao nhất bầu trời. câu thứ ba như bẻ đôi, tả sườn núi nhô lên, hạ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống vực sâu. nếu câu thứ ba quay mặt lên và úp xuống, thì câu thứ tư quay mặt sang một bên. người ta có thể tưởng tượng ra cảnh những người lính đứng trên sườn núi, phóng tầm mắt ra xa qua một không gian mờ ảo của rừng, mây, núi và thấy những ngôi nhà như đang lơ lửng giữa biển khơi.

Bốn câu thơ này kết hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau khi vẽ ba câu thơ với nét mạnh mẽ, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất nhẹ. Quy tắc này tương tự như cách sử dụng màu sắc trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng gam màu lạnh để dịu lại, như xoa cả khổ thơ.

cảnh đó cũng là tình yêu. cũng là sương, hoa, mây và mưa, những chi tiết thường thấy trong thơ cổ, nhưng cũng đầy ắp không khí hào hùng sâu lắng của thời đại được thể hiện qua ngôn từ và giọng điệu khi đọc nó ta cảm thấy ngang tàng. hình ảnh đoàn quân mệt mỏi đi trong khúc cua sâu hấp dẫn, giữa sương khói bồng bềnh được tác giả phác họa bằng những nét vẽ tài tình. con mắt thơ không dừng lại ở không gian núi rừng mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của hồn thơ người chiến sĩ. có chút ly biễn trước vương gia: nỗi tiếc thương mênh mang của một kẻ trong lúc mê muội. trong gian khổ của người lính miền Tây, ta vẫn tìm thấy một chút hài hước trong hình ảnh khẩu súng ngửi trời. đối mặt với hiện thực phũ phàng – nhưng chất lãng tử hào hoa không mất đi mà càng nổi bật, chân thực và sống động trong những vần thơ chan chứa tình yêu quê hương đất nước, nghĩa tình quân dân. một sự thật về một người lính đi về phía Tây: anh ta là một người lính trong những năm đầu của cuộc chiến đấu gian khổ. chính cơn mưa gợi nỗi nhớ da diết, làn khói cơm thơm quyện chặt tình người, hình bóng đung đưa khiến trái tim bao chàng trai rộn ràng …

vẻ dữ dội, hoang sơ, đầy bí mật khủng khiếp của núi rừng Tây Bắc tiếp tục được nhà thơ khai thác. Nó không chỉ mở ra ngoài không gian mà còn khám phá trong chiều không gian luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

buổi chiều gầm thét hùng vĩ

Xem Thêm : Tả đêm trăng đẹp lớp 5, bài văn miêu tả đêm trăng rằm trung thu ở quê em thành phố 2023

vào ban đêm, con hổ làm trò cười cho mọi người.

Xem ngay: Soạn bài Tự tình | Hay nhất Soạn văn 10 Cánh diều

rồi cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hiểm trở qua bạt ngàn quang dung hiện ra với muôn hình vạn trạng núi cao, thăm thẳm, dốc đứng, mưa rừng, sương núi, thác gầm, hổ dữ. .. tên đất lạ sai khao, mường vĩ, pha luông, mường hịch, hình ảnh giàu sức gợi hình, câu thơ nhiều vần đọc to nghe thấy nhọc nhằn lắng đọng với những câu có nhiều vần giống nhau ở cuối mỗi bài. . , đã phối hợp ăn ý với nhau, làm sống động thế giới khác thường và đa dạng của Vùng núi Tây Bắc.

câu thơ kết thúc đột ngột với hai dòng:

hãy nhớ, chúng ta hãy hút cơm

mai tạm biệt là mùa bạn thơm mùi gạo nếp.

Cảnh tượng thật cảm động. Sau bao khó khăn băng rừng, vượt núi, vượt suối, vượt đèo, các chiến sĩ dừng chân, nghỉ ngơi tại một bản làng nào đó, quây quần bên nồi cơm điện bốc khói nghi ngút. khói cơm nghi ngút và mùi lúa nếp mùa cuốn đi nét mệt mỏi trên gương mặt người chiến sĩ, khiến họ sảng khoái. hai dòng này tạo cảm giác ấm áp và thư thái, chuẩn bị vị trí của người đọc cho khổ thơ thứ hai.

“Tây tiến” là một bài thơ hay được viết nên bằng tâm hồn, tài năng và sự lãng mạn của một chiến sĩ trí thức tiểu tư sản dũng cảm. bài thơ như một tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những chiến sĩ trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được coi là kiệt tác của Quang Dũng khi ông viết về người chiến sĩ trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.

4. phân tích miền tây quang dũng – mẫu 4

Tây tiến ‘được coi là đứa con đầu lòng của quang dung và toàn bộ thơ ca kháng chiến trong nền văn học Việt Nam, nhất là những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. học sinh áo trắng bỏ bút mực xanh ra đi chiến đấu vì tình yêu quê hương đất nước tha thiết, vì hòa bình dân tộc, đi bằng trái tim anh hùng, anh dũng nhưng vẫn mang nét lãng mạn, hào hoa của tuổi trẻ trí thức. của hà nội điều này đã được nhà thơ quang dung tái hiện một cách xuất sắc trong một bài thơ miền Tây với ngòi bút lãng mạn phóng khoáng, xúc động và tài hoa. Với khổ thơ đầu, nhà thơ đã nói lên nỗi lòng của người lính, cũng là chính tác giả với nỗi nhớ về mảnh đất Tây Bắc và vẻ đẹp vượt lên gian khổ của người lính Tây Bắc.

Quang Dũng sinh ra tại Đan Phượng, Hà Tây (nay là Hà Nội). ông là một nghệ sĩ đa năng, vừa là nhạc sĩ, vừa là họa sĩ nên thơ ông rất giàu nhạc tính. Quang dũng cũng là một chiến sĩ xuất sắc tham gia nhiều chiến trường khác nhau nên thơ về người lính rất chân thực, sống động, có sức truyền cảm mạnh mẽ, phong cách thơ của ông có thể tóm gọn trong mấy chữ: phóng khoáng, xúc động, lãng mạn và tài hoa. Binh đoàn Tây được thành lập đầu năm 1947, thành phần chủ yếu là thanh niên Hà Nội, có nhiệm vụ phối hợp với Quân đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào và tiêu diệt quân Pháp. địa bàn hoạt động trải rộng từ miền thanh bình đến khu ổ chuột (lào), rồi quanh miền tây thanh hóa, phải hành quân nhiều lần, điều kiện tác chiến vô cùng khắc nghiệt. Sáng tác cuối năm 1948, Quang Dũng nhớ lại những ngày tháng ở đoàn quân Miền Tây. ban đầu gọi là “nghĩa tây”, sau đổi thành “tây” – một nhan đề hàm súc, súc tích nhưng vẫn thể hiện rõ cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ. Cảm hứng đằng sau bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

nỗi nhớ về một vùng Tây Bắc khốc liệt, được thể hiện qua 14 dòng đầu.

“sông ma xa rồi, đi về hướng tây!

nhớ rừng, nhớ chơi vơi

sai khao khát để lấp đầy đội quân mệt mỏi

Muông hoa lát vào ban đêm

đi lên một khúc cua dốc

heo hút mây, súng ngửi trời

hàng ngàn bộ trên cao, hàng ngàn bộ bên dưới

nhà ai đang mưa

bạn không đi bộ nữa

ném súng và quên đi cuộc sống!

buổi chiều gầm thét hùng vĩ

vào ban đêm khi hổ làm trò cười cho con người

hãy nhớ, chúng ta hãy hút cơm

mai tạm biệt là mùa em thơm mùi xôi ”

Hai dòng đầu của bài thơ “sông xa thì về tây! /“ nhớ núi rừng nhớ chơi vơi ”gợi lên nỗi nhớ, nỗi buồn dâng tràn về một thời đại đã qua, về một miền đất xa xôi. người được gọi là “chúa miền Tây” rất nghiêm túc và trăn trở, tay tiên không phải chỉ là một cái tên, dường như đã trở thành một người thân của người thân .quang dung gọi tên “sông ma” ngay từ những dòng thơ đầu tiên địa danh ấy còn là hiện thân tiêu biểu của miền núi Tây Bắc. trên đường hành quân, con sông ấy không chỉ là địa danh trên bản đồ địa lí mà đã trở thành người bạn, người bạn tâm tình, là nhân chứng lịch sử đã chứng kiến ​​bao đau thương, vất vả, bao niềm vui và nỗi niềm của người lính trong cuộc hành quân xa, như vậy trong nỗi nhớ quang dung trước hết là về đoàn quân miền tây thân yêu, sau đó là về tây bắc với dòng sông ma mị đầy ắp kỉ niệm. nỗi nhớ của nhà thơ, cũng là hình ảnh của những b osque và những ngọn núi, đó là nỗi nhớ “chơi vơi” lạ lùng! bởi đối với người lính thành phố, hình ảnh núi rừng Tây Bắc rất lạ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người lính. Quang dung hai lần nhớ từ “nhớ” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ day dứt trong tâm hồn, đặc biệt “nhớ chơi vơi” là một cách thể hiện nỗi nhớ riêng của quang dung. đó là cảm giác, một mình, lạc lõng, quay cuồng trong nỗi nhớ xa xăm, bởi Tây Bắc xa, Tây Bắc đầy sương mù, mây giăng giăng khắp núi, vắng vẻ, nhưng rất đỗi hào hùng. .

nếu 2 dòng đầu là nỗi nhớ thì ở 12 dòng sau, nỗi nhớ ấy đã được nhà thơ ghi lại qua bao kỉ niệm ấn tượng. đầu tiên là nỗi nhớ về sai khao, mường lát, “sai khao sương lấp đoàn quân mòn / mường lát hoa trong đêm”. hai địa danh gợi cho ta liên tưởng đến những chiến khu hành quân của bộ đội miền Tây, từ đó vẽ nên những không gian rộng lớn khác xuyên suốt bài thơ như phên dậu, mường hạc, mai châu… mang vẻ hoài niệm về gia đình. trong mọi không gian, ở mọi nơi nhà thơ đi lại, tâm hồn nhà thơ cảm thấy yêu thương, lưu luyến, cất lên lời thơ trữ tình “nơi trái tim không người yêu”. Có thể nói, mỗi địa danh đại diện cho núi rừng Tây Bắc đã trở thành một kỉ niệm không thể phai mờ, khắc sâu trong tâm trí nhà thơ “khi ta ở lại chỉ là chốn ở / khi ta ra đi, đất trở thành tâm hồn”. .

hình ảnh “sương mù che đoàn quân mỏi mệt” gợi hình ảnh đoàn quân miền Tây trở về mường lat trong màn sương mờ ảo của núi rừng Tây Bắc, gợi nên vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng, ở đồng thời là vẻ đẹp bao trùm, thống nhất của người lính. cái cảm giác “mỏi mòn” hiện trong xương máu của người lính, nó vẫn còn mới trong tâm hồn dũng cảm, điều này cho thấy nỗi nhớ da diết của tác giả, bởi nỗi nhớ càng vơi đi thì nỗi nhớ lại càng nhiều. mỏi “từ những cuộc hành quân đường dài!” mường cắt hoa về đêm “, hoa ở đây có thể hiểu là ngàn hoa từ núi rừng, hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng có lẽ chính xác hơn là hoa ban nhẹ bẫng. ngọn đuốc trong đêm như ngọn hoa lửa trong bóng tối hành quân về mường lat Hình ảnh ngọn đuốc hoa gợi lên sự lãng mạn, hào hùng của một thời miền Tây …

sau nỗi nhớ về mường lọt và sai khao là nỗi nhớ về những ngày tháng hành quân, chiến đấu gian khổ, vượt qua núi rừng Tây Bắc hiểm trở, hiểm trở.

“đi lên một khúc cua dốc

heo hút mây, súng ngửi trời

hàng ngàn bộ trên cao, hàng ngàn bộ bên dưới

nhà ai mưa xa ”

từ “dốc” gợi lên khung cảnh những đỉnh dốc nối tiếp nhau, nối tiếp nhau không hồi kết. từ “rẽ”, “vực thẳm” gợi lên sự hiểm trở, khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, hiểm trở cũng như sự bấp bênh của núi rừng, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, sự quyến rũ của cung đường. toàn bộ đoạn thơ gợi ra không gian hành quân cao, rộng và người lính đang nỗ lực hết mình để vượt qua chặng đường đầy hiểm nguy. điệp ngữ “ngàn thước” kết hợp với nghệ thuật tương phản “lên xuống” còn tiếp tục gợi lên cả độ cao chót vót của đỉnh dốc và độ sâu của đáy dốc. lời bài thơ làm nổi bật thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở của núi rừng Tây Bắc và nỗ lực vượt qua khó khăn gian khổ của các chiến sĩ lúc bấy giờ. nhưng dù thiên nhiên hùng vĩ, trập trùng, quanh co đến đâu cũng trở nên vô nghĩa dưới bước chân của đoàn quân phương tây, người lính đã hiện ra với tầm vóc của một đối thủ xứng tầm của thiên nhiên. từ “ngọt ngào” tượng trưng cho sự hoang vắng và cái lạnh giá của núi rừng, nơi mà bước chân con người tưởng như chưa từng chạm tới, chính vì người lính hành quân trên những ngọn núi sừng sững mới là “mây”. , như đang chơi đùa dưới chân mình, nghĩ rằng chiến binh đi trên mây chứ không phải trên núi.

Hình ảnh “súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa thú vị và sáng tạo của quang dũng, bởi người lính hành quân qua những đỉnh núi, nơi có thể chạm tới mây, với vũ khí khoác trên vai. , mũi súng như xuyên thủng bầu trời xanh kia, câu nói “súng ngửi trời” là một cách nói đùa để cảm nhận người lính trẻ lãng mạn, vui vẻ và hồn nhiên. câu thơ cuối có giọng điệu thực sự khác hẳn ba câu trước, câu thơ nhẹ nhàng đi xuống, tưởng tượng như người lính từ trên đỉnh núi cao nhìn xuống, thấy cảnh vật mông lung, không rõ ràng nhưng đó là dấu hiệu của sự sống, “xa”. . tắt mưa ”gợi cảm giác sảng khoái của cơn mưa trắng trời. Đó là vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng Tây Bắc, đồng thời cũng gợi lên trong tâm hồn người lính những cảm xúc bình yên, về một chốn dừng chân, tiếp thêm động lực để hành trình phía trước.

Sau những ngày hành quân gian khổ, anh Quang dũng cảm nhớ đến sự hy sinh của một người lính miền Tây.

“Người bạn nhờn không còn đi lại nữa

rơi vào tay súng và quên đi cuộc sống! ”

Người được gọi là “bạn bè” thể hiện tình cảm và tình cảm, những cụm từ “đừng giẫm chân lên nữa” và “hãy quên đi cuộc sống” đều là cách để tránh cái chết, nó là để giảm bớt nỗi đau mất mát, đồng thời nhấn mạnh sự sự hy sinh cao cả của những người lính tư thế hy sinh “rơi trên súng trường” thể hiện tinh thần của người lính dù hy sinh, không bỏ trách nhiệm, cống hiến trọn đời cho người lính, đó là một tư thế dũng cảm, dũng cảm, nghĩa hiệp của người lính. . Có thể nói, ở hai dòng trước là nỗi đau của nhà thơ với những người bạn đồng hành và cũng là niềm cảm phục của ông đối với sự hy sinh anh dũng ấy. Bài thơ cũng thể hiện cái nhìn tỉnh táo, dũng cảm của Quang khi viết về chiến tranh nhưng không giấu được nỗi đau mất mát.

Sau đây là nỗi nhớ về một thời gian khó và lãng mạn được thể hiện rõ nét qua 4 dòng thơ sau:

“một buổi chiều hùng vĩ gầm rú

vào ban đêm khi hổ làm trò cười cho con người

hãy nhớ, chúng ta hãy hút cơm

mai tạm biệt là mùa em thơm mùi xôi ”

cấu trúc thơ độc đáo, sử dụng động từ mạnh trong câu “chiều tối hùng vĩ, thác gầm thét” thể hiện sự hùng vĩ, hoang sơ của núi rừng Tây Bắc. hơn nữa, không chỉ dừng lại ở sa mạc hùng vĩ mà núi rừng nơi đây còn ẩn chứa những hiểm nguy khó lường, dũng quang viết “đêm đêm cọp nhọ người”, nơi rừng thiêng nước độc, lại có. còn có sự hiện diện của thú dữ. luôn chìm đắm trong ký ức mà nhà thơ chợt thao thức “nhớ ơi, miền tây đi khói / mai châu về mùa em thơm mùi xôi”, miền tây xa, tây bắc cũng xa, chỉ còn lại kỷ niệm. nỗi nhớ ở đây được thể hiện tha thiết, ăn xôi, gợi nhớ cả bát cơm, mùi khói lửa, xôi ấm tình quân, đồng thời gợi về một thời kháng chiến vừa gian khổ. Lãng mạn. thi vị.

14 dòng thơ đầu xoay quanh nỗi nhớ khôn nguôi về núi rừng Tây Bắc, vẻ đẹp vượt lên gian khổ của người lính, đức hi sinh cao cả và chất lãng mạn trong tâm hồn con người. những khó khăn vươn lên. bằng ngòi bút hào hoa, lãng mạn của mình, ông đã thể hiện chân thực nhất nỗi nhớ da diết trong tâm hồn người lính về một thời kháng chiến đã qua với giọng điệu phóng khoáng và hình ảnh thơ giàu sức gợi. , nhịp thơ thay đổi, vạn vật tạo nên một âm hưởng riêng, một âm hưởng riêng. phong cách lính miền tây.

Xem các thông tin hữu ích khác trong mục tài liệu của thiquocgia.vn.

đọc thêm

Xem ngay: Kết Bài Chung Cho Nghị Luận Văn Học

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn hóa

                       

Vậy là đến đây bài viết về Top 4 bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến hay chọn lọc đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Back to top button