Soạn bài Chiếu dời đô sgk Ngữ văn 8 tập 2

Văn 8 tập 2 bài chiếu dời đô

Video Văn 8 tập 2 bài chiếu dời đô

hướng dẫn soạn bài 22 SGK ngữ văn 8 tập hai. nội dung phần soạn bài chuyển sang sgk ngữ văn lớp 8 tập 2 bao gồm phần soạn bài, tóm tắt, tìm hiểu, phân tích, giải thích … đầy đủ các bài văn mẫu lớp 8 hay nhất, giúp các em học tốt. .

văn bản

hiển thị thủ đô

ngày xưa, bệnh viện đến yết kiến ​​vua (1) năm lần dời đô (2); vua triều đại châu thành vương (3) cũng ba lần dời đô (4). chẳng phải các vị vua của ba triều đại (5) đã tự ý di chuyển hay sao? chỉ vì muốn đặt vốn làm trung tâm, hoạch định những thương vụ lớn, mưu tính muôn đời cho con cháu; trên tuân theo ý trời, dưới thuận theo ý dân, nếu thuận lợi thì thay đổi. do đó, sự may mắn lâu dài và phong tục thịnh vượng của đất nước (6). Tuy nhiên, hai triều đình đều làm theo ý mình, coi thường mệnh lệnh của trời, không tuân theo những dấu hiệu cổ xưa của thương và chu. họ chỉ đơn giản là giữ kinh đô ở đây (7), có nghĩa là triều đại không tồn tại lâu. nó ngắn gọn, hàng trăm gia đình phải bỏ ra, không phải cái gì cũng thích nghi được. Tôi rất xin lỗi, tôi không thể không thay đổi (8).

Soạn bài Chiếu dời đô sgk Ngữ văn 8 tập 2

huống gì là đại la, cố đô của đại vương (9): ở trung tâm của trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi (10). ngôi bên phải là nam, bắc, đông, tây; tiện ích view sông tựa núi. đất rộng, bằng đều; khu đất cao ráo, thông thoáng. cư dân khổ ải, lam lũ; vạn vật cũng rất phong phú và tươi tốt. xem hết việt nam, riêng chỗ này là thắng (11). thật là nơi gặp gỡ quan trọng (12) của bốn phương đất nước; nó cũng là nơi đặt kinh đô vĩnh cửu của nhà vua.

Tôi muốn dựa vào sự phù hợp của vùng đất đó để xác định nơi ở. bạn nghĩ gì?

(lý công uẩn (*), trong thơ văn – Trần, tập i, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1977)

chú thích:

(*) lý công uẩn (974 – 1028), tức lý thái tổ, người Pháp cũ, đường bắc giang (nay là xã định bang, huyện sơn, tỉnh bắc ninh). ông thông minh, nhân ái, có ý chí kiên cường và làm được nhiều việc. Dưới triều Lê, ông làm quan đến chức Tả thị vệ kiêm Chỉ huy sứ. Khi nhà Lê sơ mất, triều thần lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. chiếu là kiểu nhà vua dùng để ban lệnh. chiếu có thể được viết bằng văn vần, văn xuôi, hoặc văn xuôi; thông báo và trân trọng đón nhận. Một số slide trình bày những tư tưởng chính trị lớn có ảnh hưởng đến vận mệnh của cả triều đại và đất nước. Năm Canh Tuất thứ nhất (1010), Lý công uẩn viết chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội ngày nay. ). văn bản dời đô ở đây do nguyễn đức văn dịch.

(1) bảng xem: vị vua thứ mười bảy của bệnh viện, một triều đại rất lâu đời trong lịch sử Trung Quốc.

(2) năm lần dời đô: bệnh viện từ vị vua đầu tiên là bức tường cầu thang đến bàn canh đã năm lần dời đô.

(3) trở thành vua: vị vua thứ ba của triều đại zhou, triều đại tiếp nối bệnh viện.

(4) dời đô ba lần: triều đại châu từ chu văn vương sang chu vu vường đến chu thành vương dời đô ba lần.

(5) ba triều đại: tên gọi chung của ba triều đại kế tiếp nhau là xia, shang và zhou trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.

(6) thịnh vượng: ở trạng thái phát triển tốt, dồi dào, sang trọng.

(7) đây: chỉ hoa lu, nơi triều đình nhà Lý vẫn đóng trụ sở vào thời điểm đó.

(8) Thực tế việc các triều Đinh, Lê vẫn đóng đô ở Hoa Lư cho thấy thế và lực chưa đủ mạnh, còn phải dựa vào địa hình đồi núi hiểm trở. Theo thời gian, với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, việc lập kinh đô ở Hoa lu ​​không còn phù hợp.

(9) cao vuong: nghĩa là cao biển, một quan lại triều đại, từng làm võ đường của giao châu (nghĩa là nước ta ngày xưa) từ năm 864 đến năm 875.

<3

(11) danh lam thắng cảnh: nơi có phong cảnh và địa hình đẹp.

(12) tài liệu: rất quan trọng, cơ bản, cốt yếu.

Dưới đây là hướng dẫn soạn giáo án đầy đủ và ngắn gọn nhất, ngắn gọn nhất. nội dung chi tiết của câu trả lời cho từng câu hỏi có thể được tìm thấy bên dưới:

đọc – hiểu văn bản

thiết kế: 3 phần

– phần 1. “Bệnh viện cũ… không dời”: cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô.

– phần 2. “Điều gì sẽ xảy ra nếu Đại La trở thành … hoàng đế vĩnh cửu”: lý do chọn Đại La làm kinh đô

– phần 3. đoạn còn lại: quyết định chuyển đi.

nội dung chính: Dự án dời đô phản ánh nguyện vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, đồng thời phản ánh khát vọng tự cường của nhân dân Việt Nam trên đường . .

1. câu 1 trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2

khi bắt đầu dời đô, ly công uẩn đã trích dẫn sử sách Trung Quốc về việc các vị vua cổ đại của Trung Quốc cũng đã dời đô như thế nào. mục đích của tham chiếu đó là gì?

Xem Thêm : Soạn bài Câu nghi vấn sgk Ngữ văn 8 tập 2

câu trả lời:

Các triều đại lớn trước đây dời đô nhằm mưu đồ kinh doanh lớn, xây dựng vương triều thịnh vượng và mở ra tương lai bền vững cho thế hệ sau. kết quả của việc di dời vốn mang lại sự ổn định và thịnh vượng cho đất nước.

⇒ Lý thai lấy những ví dụ cụ thể từ triều đại nhà Thương để làm bằng chứng cho việc dời đô của ông như một lẽ tất yếu về mặt đạo đức, làm cơ sở cho ý kiến ​​của ông về việc dời đô.

2. câu 2 trang 51 SGK ngữ văn 8 tập 2

Theo Lý công uẩn, cố đô ở vùng đồi Hòa Lũ (Ninh Bình) của triều đình nhà Lê không còn phù hợp nữa, tại sao vậy? (Xem chú thích (8) ở trên để hiểu tại sao hai triều Đinh, Lê vẫn phải dựa vào vùng núi Hoa Lư để đóng đô).

Xem Thêm : Soạn bài Câu nghi vấn sgk Ngữ văn 8 tập 2

câu trả lời:

Theo lý công uan, thủ phủ cũ của vùng Hòa Lự (Ninh Bình) của triều đình nhà Lê không còn phù hợp nữa:

– Hai vị vua triều đình và làm quan, bất chấp mệnh lệnh của trời, không tuân theo ngôi nhà cổ của viện.

– Vương triều không hưng thịnh, vận mệnh đất nước ngắn ngủi, nhân dân khổ sở, vạn vật không thích ứng.

– Việc hai triều đại Đinh và Lê vẫn giữ kinh đô ở Hoa Lư cho thấy thế và lực của cả hai triều đều chưa đủ mạnh (dù chỉ dựa vào thế núi và sông).

⇒ thể hiện tầm nhìn về tương lai của công lý nói chung.

3. câu 3 trang 51 SGK ngữ văn 8 tập 2

theo tác giả, việc chọn thành Đại La làm nơi đóng đô có những thuận lợi gì? (chú ý đến vị trí địa lý, địa hình sông núi, thuận lợi trong giao lưu và phát triển về mọi mặt).

Xem Thêm : Soạn bài Câu nghi vấn sgk Ngữ văn 8 tập 2

câu trả lời:

theo nguyên tắc tổng hợp, ưu điểm của thành đại la:

– từng là cố đô của các vị vua vĩ đại.

Xem thêm: Xem ngay Top 10 bài văn mẫu kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường lớp 3 chọn lọc – Mê Nhà Đẹp

– Địa hình: rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thoáng mát, không ngập nước, đa dạng phong phú.

– chính trị, văn hóa: nơi bốn phương trời hội tụ, đất lành vạn vật.

– vị trí: trung tâm của trời đất, thế ngồi rồng hổ.

⇒ ở thành đại la hội tụ tất cả những ưu điểm vượt trội của một vùng đất xứng tầm kinh đô của cả nước.

4. câu 4 trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2

chứng tỏ Chiếu dời đô có sức thuyết phục rất lớn vì nó có sự kết hợp giữa lý và tình.

(gợi ý:

<3

– một câu ra lệnh, nhưng có những đoạn để bộc lộ cảm xúc, có những câu như đối thoại. Tác dụng của lời thoại và tâm trạng trong hai câu cuối của trang chiếu là gì?)

Xem Thêm : Soạn bài Câu nghi vấn sgk Ngữ văn 8 tập 2

câu trả lời:

“dời đô” có sức thuyết phục rất lớn vì nó có sự kết hợp giữa lý và tình:

– về lý do:

+ lý thai được sử sách nhắc đến làm tiền đề chứng minh việc dời đô là hoàn toàn hợp tình, hợp lý.

– về cảm xúc:

+ sau khi đưa ra một loạt lý lẽ chặt chẽ, câu cuối cùng không phải là mệnh lệnh của nhà vua mà là một câu hỏi mang tính chất đối thoại.

+ tác dụng: tạo thiện cảm giữa thần dân với vua, thể hiện tinh thần dân chủ, đồng thời tăng tính thuyết phục cho bài chiếu.

5. câu 5 * trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2

tại sao nói sự ra đời của Kinh đô thể hiện khát vọng độc lập, tự cường và phát triển mạnh mẽ của dân tộc Đại Việt?

Xem Thêm : Soạn bài Câu nghi vấn sgk Ngữ văn 8 tập 2

câu trả lời:

thực hành

câu hỏi trang 52 SGK ngữ văn 8 tập 2

cho thấy Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận thuyết phục.

phản hồi:

lập luận ủng hộ nhu cầu di chuyển vốn:

– đề cập đến các sách lịch sử như một tiền đề, để hỗ trợ các lập luận.

– Làm sáng tỏ tiền đề trong thực tế của hai triều đại và cho thấy thực tế này không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước, nên dời đô.

– đi đến kết luận: khẳng định rằng thành Đại la là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.

⇒ cấu trúc của ba đoạn văn nêu trên rất đặc trưng cho cấu trúc của một bài văn nghị luận, trình tự lập luận nêu trên rất chặt chẽ.

bài viết hay

1. phân tích công việc dự phóng sự di chuyển vốn của các tùy viên tư pháp

tài liệu tham khảo 1:

Lý công uẩn sinh ra ở Kinh Bắc, ông là một võ tướng tài ba của đất Lê đánh hanh, từng giữ chức Tả quân trấn thủ sứ quân. ông là một người đàn ông của trí tuệ, đức hạnh, sự riêng tư và hy vọng. Năm 1009, nhà Lê ngoại mất, Lý công uẩn được các giáo sĩ và triều thần lên ngôi vua, lấy hiệu là Lý thái tổ, và lập nên triều đại nhà Lý kéo dài hơn 200 năm. Năm 1010, Lý Thái Tổ viết “Chiếu dời đô” dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La. Sau khi chuyển đến Đại La, ông đổi tên nơi này thành Thăng Long, thủ phủ của Đại Việt, nay là Hà Nội.

Việc dời đô của ly công khanh là một văn kiện có tầm quan trọng lịch sử. chính tài liệu này đã góp phần khai sinh ra kinh đô của nước ta xưa và nay.

Phần đầu của Chiếu dời đô nói về mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đô. tức là đặt kinh đô ở trung tâm, vạch ra nghiệp lớn, kế hoạch muôn đời cho con cháu; Lên theo ý trời, xuống theo ý người. Nói cách khác, di dời là một việc lớn, vừa hợp với ý trời, vừa là ý dân, nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, đem lại hạnh phúc cho muôn dân.

Việc dời đô không còn là chuyện hiếm nữa, nó đã được thực hiện bởi các vị vua trước đây ở Trung Quốc. tác giả đã đưa ra những ví dụ cụ thể để thuyết phục mọi người. câu chuyện về các vị vua trung quốc dời đô xây dựng đất nước thịnh vượng, câu chuyện về các vị vua việt nam định đô: các triều đại nhà Lê đóng đô ở hoa lu ​​khiến vương triều không bền vững, dân chúng đói khổ … đó là Chứng kiến ​​thời gian ngắn. vận mệnh của các triều đại nhà Lê và nhà Đinh và cho rằng việc dời đô là một nhiệm vụ cấp bách.

phần đầu của cuộc vận động vốn có logic sắc bén, dẫn chứng cụ thể và có sức thuyết phục. tác giả đã lồng những cảm xúc vào slide, tạo nên những ấn tượng đẹp: Tôi xin lỗi, tôi không thể không thay đổi nó.

Tác giả đã chỉ ra những ưu điểm của kinh đô mới so với kinh đô cũ. Đại la không có gì mới đối với tất cả người dân Việt Nam vào thời điểm đó, nó được xây dựng bởi triều đại nhà tang vào thế kỷ thứ 6. những điểm mạnh của thủ đô đã được nhà hiền triết của công lý chỉ ra trên slide. vị trí của nó ở trung tâm của trời và đất… nó ở ngay phía nam, bắc, đông và tây. thế đất đại la rất đẹp, rất hùng vĩ, thế rồng cuộn hổ ngồi, tựa sông tựa núi, thế đất rộng, bằng phẳng; thế đất cao ráo nhưng thoáng mát.

Rõ ràng, đây là một địa thế lý tưởng thích hợp để đóng đô và quy tụ cư dân. nó không bị ngập lụt, nhưng tất cả mọi thứ rất phong phú và đẹp.

Tóm lại, Đại La là một nơi đẹp như tranh vẽ, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước. Đại la xứng đáng là kinh đô đầu tiên của hoàng đế muôn đời.

Phần thứ hai của Chiếu dời đô thể hiện tầm nhìn chiến lược của vị vua đầu triều Lý, một tầm nhìn đầy đủ, sâu sắc và chính xác về mọi mặt. đây không phải là ý kiến ​​chủ quan mà là khả năng nhìn nhận và tính toán chính xác, quyết đoán. Sau một nghìn năm, Thăng Long, trước đây là Hà Nội, đã trở thành kinh đô của hầu hết các triều đại trong lịch sử phong kiến ​​Việt Nam. đây là đóng góp to lớn của Lý công khanh đối với lịch sử Việt Nam như lời ông nói khi dời đô: mưu sự nghiệp lớn, mưu tính muôn đời cho con cháu.

theo nghĩa đen, phần thứ hai của chiếu đế rất đặc biệt. lối viết súc tích, giàu hình ảnh và cách diễn đạt. mệnh đề đối lập trong câu rất chuẩn và đạt hiệu quả cao về mặt nghệ thuật.

Phần cuối của slide là lời bày tỏ của nhà vua với các quan về ý định dời đô của mình, điều này cho thấy nhà vua rất công minh và có đạo đức trong việc cai trị đất nước:

“Tôi muốn dựa vào sự phù hợp của vùng đất đó để xác định nơi ở. các bạn nghĩ sao? ”

việc dời đô của ly công khanh là một kỳ tích, một kỳ tích của đất nước. sau một nghìn năm, Thăng Long – Hà Nội đã trở thành thủ đô của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Đây là trung tâm kinh tế, văn hóa và quốc phòng quan trọng của cả nước.

dời đô là một bài văn xuôi cổ đặc sắc, độc đáo của tổ tiên để lại. lời nói trang trọng như giọng điệu của bậc đế vương. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam. Nó đánh thức trong nhân dân ta niềm tự hào và ý chí tự cường.

tài liệu tham khảo 2:

Trước tình hình đất nước loạn lạc, hàng loạt sắc phong được ban hành, đến nay đã trở thành những tác phẩm có giá trị của nền văn học Việt Nam. cùng với lời thỉnh cầu sáng suốt của vua quang trung, chúng ta cũng biết được chiếu chỉ của vua Lý công uẩn. bản chiếu không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà còn mang nhiều nét văn học. Lý Công Khánh nổi tiếng là vị vua anh minh, nhân hậu, có trí tuệ cao siêu, lập được nhiều công lao hiển hách. Khi vua Lê ngoại mất, ông được triều đình lên ngôi vua, gọi là Lý thái tổ, thụy hiệu là Thuấn thị. Vào năm Canh Tuất (1010), Lý thái hậu viết chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội hiện đại).

Người ta kể rằng khi tàu của nhà vua đến con sông dưới chân thành phố, một con rồng vàng đột nhiên bay lên. Cho đó là một điềm lành, tổ tiên ly thai đã đổi tên từ đại la thành thang long.

chiếu là một loại văn bản cổ, có nội dung thông báo một quyết định hoặc mệnh lệnh của vua cho thần dân của mình. ông thường thể hiện tư tưởng lớn có ảnh hưởng đến vận mệnh của vương triều và đất nước. chiếu hoàng đạo cũng có đầy đủ các tính năng trên nhưng bên cạnh đó nó cũng có những nét riêng. đó là tính chất mệnh lệnh kết hợp hài hòa với tính chất tình cảm. ngôn ngữ slide vừa là ngôn ngữ quản trị vừa là ngôn ngữ hội thoại. Ngoài các công thức và biểu thức, chiếu được viết bằng văn xuôi và chữ Hán, được gọi là cổ vật; kể từ triều đại nhà tang (Trung Quốc) đã đi theo con đường bốn phần sáu gọi là gần (hình thức gần đây).

Xem thêm: Soạn bài Số phận con người (M. Sô-lô-khốp) | Soạn văn 12 hay nhất

trước tiên, tác giả nêu ra những dẫn chứng, những căn cứ để làm tiền đề cho việc dời đô của bạn. Từ xa xưa, việc dời đô là việc làm thường xuyên của các bậc vua chúa, chủ yếu để tìm một nơi phong thủy phù hợp cho sự phát triển của đất nước, góp phần vào sự hưng thịnh của đất nước. nguyên tắc tổng hợp dẫn đến một loạt các cuộc dời đô từ các vị vua trước của Trung Quốc. ngày xưa viện đến vua bàn năm lần dời đô; vị vua của triều đại zhou Thanh vuong cũng đã ba lần dời đô. Các vị vua của ba triều đại có tự ý di chuyển không? chỉ vì muốn đặt vốn làm trung tâm, hoạch định những thương vụ lớn, mưu tính muôn đời cho con cháu; trên thì thuận theo ý trời, dưới thuận theo ý người, nếu thuận lợi thì thay đổi. như vậy may mắn lâu dài, phong tục thịnh vượng. Có thể nói, từ những ví dụ trước, tác giả lấy đây làm tiền đề và mở đầu cho Chiếu dời đô của mình. dời đô không phải là một việc xấu, nó đã xảy ra thường xuyên từ xa xưa. mục đích của nó chỉ là để cuộc sống thuận tiện hơn, bộ máy hành chính được đặt ở trung tâm đất nước. thuận theo ý trời, lòng dân để đất nước thịnh vượng, trường tồn.

bằng cách đưa ra những lý lẽ và chứng minh trên, tác giả cho rằng việc đổi kinh đô thời Lý là một tất yếu khách quan. ý định dời đô của ly công khanh bắt nguồn từ thực tế lịch sử, đồng thời thể hiện ý chí quật cường của quân vương và dân tộc ta lúc bấy giờ. nhà vua muốn xây dựng và phát triển nước Đại Việt trở thành một quốc gia hùng mạnh trong tương lai.

Tiếp theo, tác giả phân tích nhưng thực tế cho thấy kinh đô cũ không còn phù hợp với việc mở rộng đất nước do phải dời đô. không ngần ngại phê phán các triều đại xưa “tuy nhiên hai triều đại định và làm theo ý mình, coi thường mệnh lệnh của trời, không tuân theo hiệu cổ thương, chỉ giữ kinh đô ở đây, đã khiến cho các triều đại đó. đều không bền lâu, vận may ngắn ngủi, trăm họ phải tiêu, không phải cái gì cũng hợp. Tôi rất tiếc vì điều đó, không thể không thay đổi ”. Tác giả cho rằng nhà Đinh, nhà Lê không nghe theo ý Trời nên mới đóng đô ở đây nên vương triều không tồn tại được lâu. Mình không biết học những thứ ngày xưa như bệnh viện, nhà zô. do đó, làm trái với mục tiêu, chúng sẽ bị diệt vong, nếu không tuân theo quy luật thì sẽ không có kết quả tốt. Tóm lại, kinh đô của Đại Việt không thể phát triển trong một đất nước chật hẹp như vậy. nhưng trên thực tế, vào thời kỳ đó, hai triều đại chưa đủ sức mạnh và thực lực để thực hiện việc dời đô về vùng đồng bằng trống trải, nên vẫn phải dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng, rừng rậm để. chống lại kẻ thù bên trong và bên ngoài. Nhưng hiện nay, trước đà mở rộng và phát triển của đất nước, việc lập kinh đô ở Hoa Lư đã không còn phù hợp. Bên cạnh những dẫn chứng thuyết phục đó, tác giả còn nêu cảm nghĩ của mình. điều đó đã làm cho bài văn trở nên thuyết phục hơn. đó là cảm xúc mà tác giả muốn phát triển đất nước theo hướng phát triển thịnh vượng, lâu dài và bền vững hơn.

sau đó nhà vua đã kiểm tra và xác nhận tính hợp pháp và mong muốn của việc dời đô. dai la là nơi hội tụ đủ các điều kiện để phát triển đất nước. ” bất cứ thành phố đại la, cố đô của cao vương: ở trung tâm của trời và đất; đạt được tư thế ngồi của rồng cuộn hổ. ngôi bên phải là nam, bắc, đông, tây; và thưởng ngoạn quang cảnh sông tựa núi. đất rộng, bằng đều; khu đất cao ráo, thông thoáng. cư dân khổ ải, lam lũ; vạn vật cũng rất phong phú và tươi tốt. Đại La đẹp về mọi mặt như địa lý, văn hóa, đầu mối giao tiếp, điều kiện dân cư và sự phong phú, tươi đẹp của cảnh quan. tác giả đã nhìn nó dưới góc độ của một nhà phong thủy, cho thấy tất cả những điều kiện tốt đẹp của thiên nhiên và con người nơi đây. dai la thành ở trung tâm của đất nước. có một con rồng đang ngồi. Địa hình đa dạng có sông núi, địa thế cao, thoáng, mở ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, thích hợp cho sự phát triển lâu dài của đất nước. đồng thời là đầu mối giao lưu chính trị, văn hóa, kinh tế trong cả nước. Nhìn chung, Kinh thành Đại La có những điều kiện tối ưu để trở thành kinh đô mới của Đại Việt. những bằng chứng nhà vua đưa ra rất thuyết phục vì đã được xem xét kỹ lưỡng trên nhiều lĩnh vực. có thể nói đây là một vùng đất lý tưởng để đóng đô và trong điều kiện đó vương triều sẽ phát triển rực rỡ. bản thân nhà vua cho rằng xét cả nước đại việt thì chỉ có nơi đây là thánh địa. linh thiêng có thể hiểu là nơi đất lành, vật chất để phát triển mạnh mẽ.

Kết luận của công lý, công không dùng vũ lực để quyết định dời đô, mà dùng giọng điệu như để hỏi ý kiến ​​dân chúng, trung thành “Tôi muốn tin tưởng vào lợi thế của mảnh đất đó. xác định chỗ ở. Bạn nghĩ sao? ” giống như thể hiện dân chủ và công lý cho muôn dân bên dưới, quyền quyết định đương nhiên thuộc về nhà vua, nhưng ông vẫn muốn hỏi ý kiến ​​người dưới để được lòng dân. bởi vì chỉ có lòng dân mới có thể làm vua và đất nước trở nên bền vững.

như vậy có thể thấy Lý công khanh là một vị vua thông minh, nhân hậu, rất được lòng dân. Ông không chỉ lấy dữ liệu từ các triều đại trước cũng như vẻ đẹp của địa hình Đại La mà còn dùng cảm xúc để thuyết phục. Tuy là chiếu với ý nghĩa mệnh lệnh nhưng động tác ly công uẩn vốn rất thuyết phục vì hợp ý trời, hợp lòng người. tác giả đã sử dụng hệ thống lí lẽ chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn mạnh mẽ, mạnh mẽ để thuyết phục mọi người tin tưởng và ủng hộ kế hoạch dời đô của ông.

tham chiếu 3:

“Trả lại kinh đô” là một áng văn chính luận với những lý lẽ sắc bén dưới cái nhìn vượt thời gian của vua Lý thai sang. tác phẩm ra đời không chỉ để công bố quyết định rời thành Hoa lu ​​(ninh bình) về đại la (hà nội) mà còn thể hiện tầm nhìn xa của một nhà thống trị dân chủ, thấu hiểu ý trời và thể hiện tấm lòng của người dân. . .

Vua Lý Công Uẩn được biết đến là vị vua ban hành nhiều chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, có giá trị to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Lúc bấy giờ, nhận thấy kinh thành Hoa Lư không còn thích hợp cho việc buôn bán nên nhà vua ra quyết định dời kinh đô Hoa Lư về Đại La, nay là Thăng Long, Hà Nội. và “dời đô” khi được ban hành đã trở thành một tác phẩm của nền văn học Việt Nam. tác phẩm không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà còn mang ý nghĩa nhân văn và văn học sâu sắc.

chiếu là một thể loại văn học thể hiện những tư tưởng lớn có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước; mang nội dung công bố một mệnh lệnh, một quyết định của vua cho nhân dân. với “chiếu đô”, ta thấy nó có những đặc điểm chung của thể chiếu, nhưng lại có những nét độc đáo riêng với sự kết hợp của tâm trạng và phẩm chất mệnh lệnh.

Tác phẩm được chia làm 2 phần, phần thứ nhất phân tích lý do cần phải dời đô và phần thứ hai là lý do tại sao Đại La được chọn làm kinh đô mới của đất nước. thông qua các bài học lịch sử, nêu các ví dụ về việc dời đô của một nước hữu nghị sang Trung Quốc. chuyện dời đô xưa nay không còn là chuyện hiếm, mục đích cuối cùng là sự phồn vinh của đất nước.

Thành hoa lu ​​với núi dốc không còn phù hợp trong thời bình, với địa hình đồi núi thuận lợi như vậy nó chỉ phù hợp trong thời chiến, nhưng khi hòa bình trở nên khó khăn. con người lúc này cần một nơi có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, giao thông thuận tiện để thúc đẩy giao thương buôn bán. bộ máy hành chính phải đặt ở trung tâm đất nước. và dời đô vào thời điểm này là thuận theo ý trời, hợp lòng người.

ly cong khanh đã chứng minh rằng Đại La xứng đáng là thủ đô của Việt Nam muôn đời. đạt được tư thế ngồi của rồng cuộn hổ. ngôi bên phải là nam, bắc, đông, tây; tiện ích view sông tựa núi. đất rộng, bằng đều; khu đất cao ráo, thông thoáng. cư dân khổ ải, lam lũ; vạn vật cũng rất phong phú và tươi tốt. ”

Đại thành dưới góc nhìn và phân tích của nhà vua dường như là vị trí trung tâm của đất nước, đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước. thế rồng cuộn ngồi, địa thế đa dạng, rộng rãi, mở ra bốn hướng thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước. thành đại la hội đủ các điều kiện để trở thành thủ đô mới của đại việt ta.

“Triệu đô” là một bài chính luận với lòng dũng cảm sâu sắc, thể hiện tài năng, tầm nhìn xa bắt nguồn từ thực tế lịch sử về một nước Đại Việt hùng mạnh trong tương lai.

tham chiếu 4:

Năm 1010, vua ly thai rời kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) đến Đại La (Thăng Long – Hà Nội ngày nay). đây là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thời kỳ phát triển mạnh mẽ của vương triều phong kiến ​​Việt Nam lúc bấy giờ. và nhà vua viết về việc “dời đô” để thông báo cho quân đội về việc dời đô. bản chiếu đã vượt ra khỏi chức năng hành chính thông thường của nhà nước, trở thành một tác phẩm có giá trị lịch sử và văn học độc đáo.

tác phẩm được viết theo thể “chiếu”, kiểu dùng để vua ban lệnh, viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn xuôi; thể hiện những tư tưởng lớn, có tầm ảnh hưởng lớn đến vận mệnh, triều đại và đất nước. “Chiếu dời đô” thể hiện khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí quật cường của Dân tộc Đại Việt.

Ngay từ đầu, đoạn đầu đã nêu tiền đề, cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô. Nhà vua không trực tiếp “áp đặt” mệnh lệnh cho thần dân của mình mà thay vào đó đưa ra những lý lẽ và ví dụ rất tiêu biểu về các triều đại cổ trong lịch sử trước đó của cả Trung Quốc và Đại Cồ Việt. nhà chu di dời đô năm lần, nhà chu dời đô ba lần chỉ nhằm mục đích “vận nước lâu dài, phong tục hưng vượng”. Đó là một hành động hợp lý “thượng đế tuân lệnh thiên hạ, thuận theo lòng dân” và cuối cùng, việc dời đô của hai triều đại thương – chu đã tốt đẹp, đem lại kết quả mỹ mãn. ngược lại, hai triều đại Đinh – Lê ở nước ta cứ đóng đô ở Hoa lu, không chịu dời đô, là trái ý trời, không chịu noi gương các bậc “tiền bối”, hậu quả là: suy vong. của triều đại, không cường thịnh … lập luận so sánh giữa mặt tốt của việc dời đô và hậu quả xấu của việc không dời đô, nhà vua đã sắc sảo chỉ ra ý kiến ​​của mình: dời đô là một phải làm và phải xem. nghĩa là việc dời đô không chỉ nhằm noi gương tiền nhân mà còn là “kế sách muôn đời cho con cháu” mai sau. vì vậy, ngay ở đầu slide, chúng ta đã thấy được khát vọng mãnh liệt về một đất nước độc lập, thống nhất, phồn vinh và phát triển thịnh vượng trong tương lai của vua ly thai.

Trong đoạn tiếp theo, nhà vua đưa ra lý do chọn Đại thành làm kinh đô mới. Trong mắt vua, thành đại la dường như là vùng đất hội tụ, chung khí thiêng của muôn đời. Về vị trí địa lý, đây là trung tâm của đất nước, có địa thế đẹp (rồng cuộn mình hổ ngồi) nhìn ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, có núi sông, địa thế rộng lớn nhưng cao ráo bằng phẳng nhưng thoáng mát, không lo ngập úng. về phương diện chính trị, là đầu mối giao lưu bốn phương, dân cư đông đúc, đất đai phì nhiêu, vạn vật phong phú, tươi tốt. từ đó, nhà vua kết luận: trong cả nước, đây là nơi “kinh đô đầu tiên của bậc đế vương muôn đời”. Đến đây, ta thấy vua Lý Thái Tổ thực sự là một vị vua sáng suốt, có tầm nhìn xa trông rộng, biết điều khiển vận mệnh của triều đại mình, biết chủ động trước những nhu cầu cấp thiết của xã hội và lịch sử của nhân dân. vì dời đô từ nơi có núi non hiểm trở (thích hợp cho việc phòng thủ và chiến đấu) ra đồng bằng rộng lớn (khả năng phòng thủ thấp) cho thấy quốc gia có nội lực mạnh, vương triều vững mạnh. vì vậy, đây là sự thể hiện khát vọng tự lực, tự cường, ý chí quyết tâm xây dựng đất nước gắn liền với công cuộc bảo vệ Tổ quốc vô cùng hăng hái và oanh liệt của dân tộc Việt Nam.

“Trở về vốn” của ly thai thành được viết cách đây hơn một nghìn năm, nhưng lí lẽ vẫn có sức thuyết phục mạnh mẽ nhờ sự hòa quyện hài hòa giữa lý trí và tình cảm. Sau những cơ sở và lý lẽ của hai phần trước, nhà vua kết thúc cuộc chiếu chỉ với câu hỏi: “Ta muốn dựa vào lợi thế của vùng đất đó để xác định nơi ở. ngươi nghĩ sao? ”vừa mang tính chất ban bố, vừa mang tính chất đối thoại, thăm dò triều thần. Chính câu hỏi ấy đã xóa đi khoảng cách giữa bậc quân vương và trăm họ, dễ tạo thiện cảm giữa vua và thần dân. kể từ đó, nhà vua – dễ dàng đồng lòng xây dựng một đất nước giàu mạnh và vẻ vang.

Có một câu chuyện mà người xưa vẫn kể, khi dời đô đến Đại La, vua Lý thai nằm mơ thấy rồng vàng hiện trên trời nên vua đổi tên từ Đại la thành Thăng Long. điều đó cho thấy việc dời đô của nhà vua càng trở nên đúng đắn và có sức thuyết phục. bởi đây là sự kiện không chỉ có sự hội tụ của những lợi thế về địa lý, sự giao hòa của con người mà còn là của đất trời. và cho đến ngày nay, chúng ta vẫn thấy rằng Đại La – Thăng Long – Hà Nội thực sự là mảnh đất địa linh nhân kiệt với hàng nghìn năm văn hiến, trường tồn cùng năm tháng trong lòng mỗi con người Việt Nam.

Tóm lại, với nghệ thuật lập luận chặt chẽ, chặt chẽ, lập luận sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, tình cảm chân thành, bài chiếu đã chạm đến trái tim đồng cảm của hàng triệu người trong thời đại. các vị thần ủng hộ việc vua muốn dời đô, điều này cho thấy Lý thai là một vị vua rất khôn ngoan. Đồng thời qua bộ chiếu còn thấy được khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, thể hiện ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đường trưởng thành, phát triển và tỏa sáng.

tham chiếu 5:

Trước khi dời đô về kinh thành Thăng Long, hai triều đình và triều đã đóng đô ở vùng núi hiểm trở, vận may ngắn ngủi, sinh ra không bao lâu thì mất. Với cương vị là người đứng đầu đất nước, Lý công uẩn có trách nhiệm lớn lao là tìm nơi đóng đô của đất nước. am hiểu thiên văn, địa lý, Lý công uẩn quyết định dời đô về thành Thăng Long, và đó cũng là hoàn cảnh ra đời của văn bản dời đô. sự ra đời của movida capitalina thể hiện khát vọng to lớn của dân tộc về một đất nước độc lập, hùng mạnh và không ngừng phát triển.

Khi đi đến quyết định dời đô đến một địa điểm khác, ngũ uẩn đã tính toán rất kỹ giữa lịch sử và thực tế. dời đô không phải là hiếm, bên cạnh chúng ta, Trung Quốc cũng đã vài lần dời đô: “trước kia viện dời đô cho vua năm lần, nhà zân chủ dời đô ba lần”. việc dời đô không phải tùy tiện mà thuận theo ý trời, thuận theo lòng dân, để vận mệnh đất nước được bền lâu, nhân dân được ấm no hạnh phúc. Không tập trung vào những điển tích xưa, để lập luận một cách chi tiết và sâu sắc hơn, Lý công uẩn còn khảo sát lịch sử gần đây, đó là hai triều đại Đinh và Lê trước đó. Do địa thế hiểm trở, không thuận lợi cho việc buôn bán, phát triển kinh tế nên không bền, số mệnh đoản mệnh, trăm họ thua lỗ, không việc gì cũng thích ứng. Đó là một thiệt hại lớn cho đất nước, cho toàn thể nhân dân. Với nỗi đau trong lòng, những người gắn bó với công lý không ngừng suy nghĩ, và điều đó đã thôi thúc ông biến nó thành một hành động cụ thể không thể không dời đô đến một nơi có tinh thần tốt hơn vì vận mệnh đất nước.

Sau khi quyết định dời đô, ly công khanh đã đưa ra những lý lẽ và chứng cứ rất chặt chẽ để khẳng định rằng kinh đô đầu tiên của vị hoàng đế muôn đời là kinh thành Thăng Long. Trước hết, thành Thăng Long nằm ở trung tâm của trời đất, thế rồng cuộn hổ, nhìn sông tựa núi, địa thế đẹp, đắc địa. đất ở đây rất rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thoáng mát, cư dân sẽ không phải chịu cảnh ngập lụt, vạn vật phát triển dồi dào. Không chỉ đẹp về địa thế, thành Thăng Long còn thuận lợi về chính trị và văn hóa, đây là nơi “trọng điểm bốn phương hội tụ; cũng là nơi đóng đô đầu tiên của các vị hoàng đế. thành thăng long hội tụ đủ các yếu tố để trở thành kinh đô vĩnh cửu của đại việt. thử hỏi đứng trước sự hội tụ quan trọng của đất nước bốn phương, vận tài đất nước sao mà ngắn chẳng tày gang, làm sao cuộc sống của người dân không được bình yên, hạnh phúc. Đây là nguyện vọng và niềm mong mỏi lớn nhất của công lý gắn bó: đất nước phồn vinh, ổn định, nhân dân đời đời hạnh phúc, thịnh vượng. Đó là khát vọng lớn lao, nhân văn và cao cả của một con người yêu nước, thương dân.

Di dời thủ đô không chỉ là nguyện vọng cao cả, lớn lao của dân tộc mà còn là minh chứng tiêu biểu cho sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc. hai triều đại trước không dời đô là vì thế và tiềm lực còn yếu nên phải dựa vào núi dốc để tồn tại. nhưng giờ đây, khi chân lý kiên định tiến tới mặt bằng, khang trang, bằng phẳng thì kinh tế và thế mạnh của ta đã lớn mạnh, sẵn sàng đối mặt với những ý đồ xảo quyệt của kẻ thù. Đồng thời, việc dời đô đến nơi ở mới cũng tạo điều kiện để chúng ta không ngừng phát triển kinh tế, quân sự, củng cố và tăng cường hơn nữa tiềm lực của quốc gia, dân tộc.

Chiếu dời đô vẫn luôn giữ nguyên giá trị cho đến tận ngày nay. tác phẩm không chỉ thể hiện sự sáng suốt, sáng suốt trong cách nhìn nhận, phân tích vấn đề của các pháp uẩn mà còn thể hiện tài năng suy luận phong phú, sắc sảo của vị vua anh minh, sáng suốt này.

tài liệu tham khảo 6:

Li cong uan (974 – 1028) sinh ra tai phuong chau, bac giang, nay la dinh bang, tu Son, Bac Ninh, la mot nguoi thong minh, giàu lòng nhân ái, có chí cầu tiến và lập thân. võ công hiển hách. Dưới triều Lê, ông làm Tả thị vệ kiêm Chỉ huy sứ. Khi vua Lê ngoại mất, ông được triều đình lên ngôi vua, gọi là Lý thái tổ, thụy hiệu là Thuấn thị. Năm Canh Tuất (1010), Lý thái tổ viết chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hòa Lũng (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội hiện đại). Tương truyền, khi thuyền của vua đến sông dưới chân thành, bỗng có một con rồng vàng bay lên không trung. Cho đó là một điềm lành, tổ tiên ly thai đã đổi tên từ đại la thành thang long.

Chiếu dời đô phản ánh ý chí tự cường, khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất và giàu mạnh của dân tộc Việt Nam. bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ vì trên là thuận theo ý trời, dưới là lòng người, có sự kết hợp hài hòa giữa lý và tình.

chiếu là một loại văn bản cổ, có nội dung thông báo một quyết định hoặc mệnh lệnh của vua cho thần dân của mình. ông thường thể hiện tư tưởng lớn có ảnh hưởng đến vận mệnh của vương triều và đất nước. chiếu hoàng đạo cũng có đầy đủ các tính năng trên nhưng bên cạnh đó nó cũng có những nét riêng. đó là tính chất mệnh lệnh kết hợp hài hòa với tính chất tình cảm. ngôn ngữ trang trình bày vừa là ngôn ngữ quản trị vừa là ngôn ngữ hội thoại.

Xem Thêm : Những Chữ Kí Tên Giang ❤️️Mẫu Chữ Ký Đẹp Tên Giang Phong Thủy

Cấu trúc của trang trình bày thể hiện cấu trúc của một bài tiểu luận về chính trị xã hội. Bằng lập luận sắc bén, chặt chẽ và logic, tác giả đã trình bày và thuyết phục mọi người đồng tình với quyết định dời đô của mình. Để chứng minh quyết định dời đô là đúng đắn, tác giả trích dẫn một số dẫn chứng trong lịch sử cổ đại để củng cố lập luận và tăng tính thuyết phục.

Để giảm bớt sự lo lắng của nhiều người trước khi dời đô, tác giả cho rằng việc dời đô là việc thường xảy ra trong lịch sử các triều đại phong kiến ​​từ trước đến nay. Lý công uẩn nêu ví dụ về các triều đại Trung Quốc cổ đại cũng dời đô:

Trước đây, bệnh viện đến vua bàn việc năm lần dời đô; vị vua của triều đại zhou Thanh vuong cũng đã ba lần dời đô. Các vị vua của ba triều đại có tự ý di chuyển không? chỉ vì muốn đặt vốn làm trung tâm, hoạch định những thương vụ lớn, mưu tính muôn đời cho con cháu; trên thì thuận theo ý trời, dưới thuận theo ý người, nếu thuận lợi thì thay đổi. nên vận nước lâu dài, phong tục hưng thịnh.

Đoạn văn này thiết lập tiền đề hỗ trợ lập luận mà tác giả sẽ trình bày trong các phần sau. trong lịch sử phong kiến ​​phương Bắc đã có lịch sử dời đô và kết quả tốt đẹp nên việc dời đô từ ly thai sang không có gì lạ.

Nhà vua cho biết rằng khi các vị hoàng đế quyết định dời đô, họ làm như vậy nhằm mục đích lập đại nghiệp, xây dựng vương triều thịnh vượng, hoạch định kế hoạch lâu dài cho quốc gia, dân tộc. dời đô lên là thuận theo ý trời (tức là thuận theo quy luật khách quan), xuống là thuận theo ý dân (thuận theo ý dân), đưa đến sự phát triển thịnh vượng của quốc gia. gia đình dân tộc.

bằng cách đưa ra những lý lẽ và chứng minh trên, tác giả cho rằng việc đổi kinh đô thời Lý là một tất yếu khách quan. ý định dời đô của ly công khanh bắt nguồn từ thực tế lịch sử, đồng thời thể hiện ý chí quật cường của quân vương và dân tộc ta lúc bấy giờ. nhà vua muốn xây dựng và phát triển nước Đại Việt trở thành một quốc gia hùng mạnh trong tương lai.

Trên cơ sở quan sát và phân tích kỹ lưỡng tình hình hiện tại, ông đã đưa ra những nhận xét phê phán: Tuy nhiên, hai nhà Đinh đã làm theo ý mình, coi thường mệnh lệnh của trời, không tuân theo. hoàng thành ở đây, khiến cho triều đại không bền lâu, vận may ngắn ngủi, trăm họ phải tiêu, mọi việc đều không hợp. Tôi rất xin lỗi, tôi không thể không thay đổi nó.

Theo ông, nếu cứ đóng đô ở chỗ cũ sẽ mắc phải những sai lầm như không phù hợp với quy luật khách quan: tùy ý làm trái, bất chấp mệnh lệnh của trời; Chẳng biết làm theo lẽ phải của người xưa: đừng theo dấu xưa yêu chu, cứ giữ thành ở đây. Kết quả là triều đại không bền lâu, số mệnh ngắn ngủi … tóm lại, kinh đô của quốc gia Đại Việt không thể thịnh vượng trong một vùng đất chật hẹp như vậy.

Theo quan điểm của con người ngày nay, chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng về vai trò lịch sử của hai triều đại Đinh và Lê. thực ra lúc bấy giờ cả thế và lực của triều đình chưa đủ mạnh để dời đô về vùng đồng bằng trống trải nên còn phải dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở để chống trả thù trong, giặc ngoài. . . Nhưng đến lúc đất nước mở mang và phát triển, việc lập kinh đô ở Hoa Lư không còn phù hợp nữa.

Ngoài lý trí nhạy bén, vua Lý Thái Tổ còn dùng tình cảm chân thành để tác động mạnh mẽ đến tâm hồn con người, thể hiện sự tế nhị và khiêm tốn trong việc bày tỏ ý định của mình. sức thuyết phục của lập luận càng tăng lên khi tác giả lồng vào cảm xúc: “Tôi rất tiếc về điều đó. tuy nhiên, đằng sau những lời nói nhẹ nhàng đó vẫn có một quyết định chắc chắn không thể thay đổi.

Nhà vua đã chứng minh sự vượt trội của thành Đại La về mọi mặt và tuyên bố rằng đây là nơi tốt nhất để lập kinh đô mới:

Bất kể thành phố Đại La, cố đô của vị vua tối cao: ở trung tâm của trời và đất; đạt được tư thế ngồi của rồng cuộn hổ. ngôi bên phải là nam, bắc, đông, tây; và thưởng ngoạn quang cảnh sông tựa núi. đất rộng, bằng đều; khu đất cao ráo, thông thoáng. cư dân khổ ải, lam lũ; vạn vật cũng rất phong phú và tươi tốt.

Nhà vua đã dựa vào thuyết phong thủy để phân tích và kiểm nghiệm những lợi thế và vẻ đẹp nhiều mặt của thành Đại la về địa lý, văn hóa, trung tâm giao tiếp, điều kiện sống của người dân và sự phong phú, vẻ đẹp của cảnh quan.

thành dai la nằm ở trung tâm của đất nước. có một con rồng đang ngồi. Địa hình đa dạng có sông núi, địa thế cao, thoáng, mở ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, thích hợp cho sự phát triển lâu dài của đất nước. đồng thời là đầu mối giao lưu chính trị, văn hóa, kinh tế trong cả nước. Nhìn chung, Kinh thành Đại La có những điều kiện tối ưu để trở thành kinh đô mới của Đại Việt. bằng chứng nhà vua đưa ra rất thuyết phục vì đã được xem xét kỹ lưỡng trên nhiều lĩnh vực, trên đó nhà vua đã nêu:

xem toàn bộ việt nam, chỉ có nơi này là thánh địa. là nơi gặp gỡ quan trọng của bốn phương đất nước; nó cũng là nơi đặt kinh đô vĩnh cửu của nhà vua.

Xem thêm: ✅ Tả cây dừa ở quê em lớp 4 ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐

tác giả gọi đại la là thánh địa của việt nam vì nhận thấy nơi đây là đất lành, đất tốt, có thể mang lại nhiều lợi lộc, đồng thời dự đoán rằng đại la sẽ là một địa vị quan trọng. nơi gặp gỡ. , nó cũng là nơi đóng đô đầu tiên của vị hoàng đế muôn đời.

cuối chiếu dời đô, ly thái phi không dùng quyền vua ban lệnh mà đặt câu hỏi: “ Ta muốn dựa vào mong muốn của vùng đất đó để xác định nơi ở. .. Bạn nghĩ sao?

Câu hỏi tu từ này thể hiện thái độ trân trọng của người đứng đầu đất nước đối với triều đình phong kiến ​​đương thời. đây có thể coi là một yếu tố dân chủ tiến bộ trong hệ tư tưởng ly thai. lời bài hát là cuộc đối thoại tạo sự thấu hiểu, cảm thông giữa vua, quan triều đình và nhân dân. một lần nữa, nhà vua khẳng định quyết tâm dời đô từ Hoa Lư về Đại La.

Sở đô được viết theo thể song thất lục bát với các cặp câu đối, các vế đối của câu đối rất chỉnh chu cả về ý lẫn từ. các đoạn văn cân đối kết hợp, bổ sung cho nhau thể hiện nội dung tư tưởng của trang chiếu. tác giả đã thuyết phục người nghe bằng những lí lẽ đanh thép và tình cảm chân thành. Ý nguyện dời đô của ly thai sang phù hợp với tâm nguyện của nhân dân trăm họ.

Chiếu dời đô phản ánh ý chí độc lập tự chủ của dân tộc và sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Đại Việt. Qua đó thấy được khát vọng mãnh liệt của ông cha ta về một nước Đại Việt độc lập, thống nhất, hùng cường và lập trường tự hào của một dân tộc tự chủ đang trên đà phát triển. Việc dời đô từ vùng núi Hoa lu ​​hẹp về vùng đồng bằng rộng lớn cho thấy triều đình nhà ly đã có công đánh đuổi chế độ phong kiến ​​trên đất nước và có khả năng chống quân xâm lược phương Bắc. Lý thai lập đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân giang sơn một thời, có điều kiện xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Tính đúng đắn của quyết định dời đô đã được lịch sử chứng minh một cách hùng hồn. Thăng Long – thủ đô Hà Nội ngày nay xứng đáng là trái tim của cả nước, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, đứng vững trước mọi thử thách khốc liệt của nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. >

2. phân tích và đưa ra ý kiến ​​của bạn về dự án dời đô

Lý công uẩn (974-1028), quê ở Kinh Bắc, là võ tướng cao cấp của Lê Đại Hành, từng giữ chức Tả vệ sứ, Tiết độ sứ. ông là một người khôn ngoan, đức độ, kín đáo và có nhiều uy tín. Năm 1009, nhà Lê ngoại mất, ông được các giáo sĩ và triều thần lên ngôi vua, tức là Lý thái tổ, lập nên triều đại nhà Lý kéo dài hơn 200 năm (1009-1225).

năm 1010, Lý Thái Tổ viết “Thiếp đô” dời đô từ Hòa Lũng (Ninh Bình) về Đại La, sau đổi thành Thăng Long, thủ đô của Đại Việt.

“Chiếu là lời vua ban lệnh cho thần dân” (dương quang ham), thuộc thể văn xuôi cổ, câu đối, lời lẽ trang nghiêm, uy nghiêm. “Chiếu dời đô” của Lý công khanh là một văn kiện có tầm quan trọng lịch sử. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội càng đến gần, chúng ta càng thấy rõ hơn ý nghĩa lịch sử to lớn của luận án này.

văn bản tiếng Trung chỉ dài 214 từ, bản dịch của nguyen duc van dài 360 từ:

1. phần đầu ‘dời đô’ nói về mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đô là ‘đóng đô ở trung tâm, mưu sự lớn, kế hoạch muôn đời cho con cháu; Lên theo ý trời, xuống theo ý người. Nói cách khác, việc dời đô là một việc lớn, vừa hợp với ý trời, vừa là ý dân, nhằm xây dựng đất nước thịnh vượng, đem lại hạnh phúc, bình yên cho nhân dân.

a. mục đích và tầm quan trọng

Việc dời đô không còn là chuyện hiếm mà là kinh nghiệm lịch sử, phản ánh xu thế phát triển lịch sử của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. tác giả đã nêu những chứng tích lịch sử để thu phục lòng người. câu chuyện xa xa là câu chuyện trên con tàu: “Ngày xưa, viện tiến vua năm lần dời đô; từ triều đại đến vua, đến vua, dời đô ba lần “. Sử sách gần đây chép rằng ở nước ta trong các triều đại vua và triều Lê, vì chỉ” làm theo ý mình, coi thường mệnh lệnh của trời. .. ”, họ cứ“ đóng đô ”ở hoa lệ nên đã dẫn đến thảm cảnh:“ triều đại chẳng tồn tại được bao lâu. kéo dài, đoản mệnh, trăm họ phải mất, vạn vật không kịp thích ứng ”… sử sách chép rằng, sau khi đánh dẹp được 12 sứ quân, năm 968 ông lên ngôi, rồi năm 979 vua bị thương. Năm 981, ông hoàng đế. lên làm vua, tuy đã đánh tan quân xâm lược nhưng đến năm 1005, Lê Đại Hãn băng hà, các thế lực phong kiến, vương hầu … lại xung đột, tranh giành ngôi báu, loạn lạc kéo dài khiến “trăm họ” mất mát rất nhiều. máu và tiền bạc. Cái chết của vua nhà Lê sơ năm 1009 chứng tỏ rằng nhà Đinh và nhà Lê “không bền lâu, vận thế ngắn chẳng tày gang”. Hai triều đại Đinh, Lê phải đóng đô do nhiều nguyên nhân lịch sử: nhà nước phong kiến ​​Việt Nam chưa đủ mạnh, giặc giã hoành hành, giặc giã nổi dậy kéo dài. Vì vậy, các vua thời Đinh, Lê phải nuôi hổ, báo ở nhà, nấu vạc dầu ở sân đình, dựa vào sông sâu, núi cao, địa thế hiểm trở của Hoa Lư để đóng đô và phòng thủ. . Việc xây dựng kinh đô ở Hoa Lư là một hạn chế của lịch sử triều Đinh và Lê.

Ly công khanh “xót xa” trước suy nghĩ “tài lộc đoản mệnh” của các triều đại định đô và cảm thấy dời đô là việc cấp bách “không thể không dời đô”.

“dời đô” ở phần mở bài, lập luận sắc bén, dẫn chứng lịch sử là sự thật hiển nhiên, giàu sức thuyết phục. tác giả đã lồng những cảm xúc vào slide, tạo ra nhiều ấn tượng đẹp: “Em xin lỗi, em không thể không thay đổi nó

“history of vietnam” từ viện sử học đã viết:

“Việc dời đô ra Thăng Long phản ánh yêu cầu phát triển mới của đất nước phong kiến ​​tập trung và thể hiện khả năng, niềm tin và ý chí quyết tâm giữ vững độc lập của toàn dân tộc”…

b. dai la rất tiện lợi, thanh toán rất tốt.

dala la không có gì mới, nó là “cố đô của cao vuong”. Cao Vương là Cao Biền, một đại thần nhà Đường, giữ chức Trấn thủ Giao Châu từ năm 864-875; Năm 866, Cao Biền xây thành Đại La, thuộc Hà Nội ngày nay.

nó rất tiện lợi.

về vị trí địa lý là “ở trung tâm của trời đất… vị trí chính xác là nam, bắc, đông, tây

trên mặt đất, rất đẹp, rất uy nghi: “có thế rồng cuộn hổ ngồi”, “thích trông sông, tựa núi”, “thế đất rộng, bằng phẳng; địa thế cao ráo, thoáng mát. ”

là khu đất an cư lý tưởng cho cư dân, không bị “ngập lụt”, “vạn vật sinh sôi nảy nở”.

Tóm lại, Đại la là “địa thắng”, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, là “nơi gặp gỡ quan trọng của bốn phương đất nước”. Đại la xứng đáng là “Kinh đô đệ nhất đế vương muôn đời”.

2. Phần thứ hai của “Dự án dời đô” thể hiện tầm nhìn chiến lược của bậc hiền triết Đại La, nơi sẽ dời đô. tầm nhìn đầy đủ, sâu sắc, chính xác cả về vị trí địa lý, địa hình, nhân văn… sau nghìn năm Hà Nội đã trở thành kinh đô thái bình của đất nước ta, của nhân dân ta, càng thấy rõ rằng dời đô hoa lệ. một dai la của ly cong khanh là một công lao vô cùng to lớn “lập nghiệp lớn, muôn đời cho con cháu”.

Sử sách còn ghi: khi thuyền rồng của vua vừa cập bến sông Nhị Hà dưới chân thành đại la thì có một con rồng vàng bay lên, nhà vua cho là điềm lành nên đổi tên là Thăng Long. Thăng Long là “rồng bay” tượng trưng cho thế nước và phản ánh khát vọng của nhân dân ta là đưa nước Đại Việt trở thành một đất nước phồn vinh, có nền văn hóa vĩnh cửu rực rỡ. ý chí tự cường và niềm tin vào một ngày mai tốt đẹp được khẳng định mạnh mẽ.

theo nghĩa đen, phần thứ hai “dời đô” rất đặc biệt. cách viết ngắn gọn, giàu hình ảnh và cách diễn đạt, đối lập rất quan trọng, nghe rất thú vị, mặc dù bạn phải xem qua bản dịch:

“and if dai la… in the center of Heaven and Earth //; đạt được tư thế ngồi của rồng cuộn hổ. vào ở ngay, hướng Bắc, Tây, Đông //, thuận tiện view sông tựa núi. cư dân khỏi lũ //; vạn vật cũng rất trù phú, tươi tốt … là nơi gặp gỡ quan trọng của bốn phương đất nước //; cũng là nơi kinh đô vĩnh hằng của nhà vua. “

3. phần cuối của đầu ‘thien do mat’ chỉ có 14 chữ, bản dịch là 19 chữ. nhà vua bày tỏ ý kiến ​​về việc dời đô và hỏi các quan. quả thật uổng công là người “có trí, có đức, kín đáo”.

“Tôi muốn dựa vào sự tiện lợi của vùng đất này để xác định một nơi ở. Bạn nghĩ sao? “

việc dời đô của ly công khanh là một kỳ tích, một kỳ tích. Sau gần một nghìn năm thăng long – Hà Nội “mảnh đất văn vật” đã trở thành thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và quốc phòng của nước ta.

“dời đô” là một bài văn xuôi cổ đặc sắc, độc đáo của tổ tiên để lại. lời nói trang trọng, thực sự là giọng điệu của bậc đế vương. nó là sự kết tinh của tâm hồn và trí tuệ Việt Nam. đánh thức trong lòng nhân dân ta niềm tự hào và ý chí tự cường.

3. Những suy nghĩ của tôi về lòng yêu nước, thương dân được thể hiện trong văn bản hoàng phong Lý thái tổ, hịch tướng sĩ của trấn quốc tuấn

tình cảm yêu nước là sợi dây thủy chung xuyên suốt lịch sử văn học dân tộc. tình cảm đó được thể hiện mạnh mẽ qua những lời tâm huyết của các vị lãnh đạo đất nước từ ngàn xưa. có thể kể đến những bài văn tiêu biểu như “dời đô” từ ly thai sang, “hịch tướng sĩ” từ trấn quốc tuấn.

Phong trào đô hộ ra đời khi ly thai lên ngôi. nhà vua mong muốn đất nước có một kinh đô lớn và xứng đáng để phát triển đất nước. chính vì vậy mà Người đã phê bình và chỉ rõ việc lập kinh đô ở Hoa lu ​​không còn phù hợp nữa: “cứ giữ kinh đô ở đây, khiến vương triều không tồn tại lâu, vận mệnh ngắn ngủi, trăm họ phải mất, vạn sự bất như ý. đã được điều chỉnh. ” Hoa lu ​​là khu vực có địa hình hiểm trở, tiềm lực phát triển chưa đủ mạnh, phù hợp với chiến lược phòng thủ. nhưng trong đời sống luật pháp, đất nước nảy sinh nhu cầu phát triển nên thủ đô phải dời đi nơi khác. không chỉ lý do mà vị tùy viên công lý cũng bày tỏ hết nỗi lòng của mình: “Tôi rất xin lỗi”. tình cảm của một vị vua luôn hướng về thiên mệnh, sự tồn tại của giang sơn xã tắc khiến độc giả xúc động.

Vì quá đau xót khi nghĩ đến một vùng đất thiêng có thể hỗ trợ cho sự phát triển của đất nước, nhà vua đã cho xem đất xây thành Đại la. là nơi có vị trí đắc địa về nhiều mặt, về địa lợi tác giả phân tích rõ: trung tâm của trời đất; thế rồng, hổ ngồi ”, bốn bề rộng mở, thế“ tựa sông tựa núi ”vững vàng,“ thế đất rộng, bằng phẳng; đất cao, rộng thoáng. ” trên vùng đất đó, cư dân sẽ tránh được lũ lụt và “vạn vật sinh sôi, tươi đẹp”. lợi thế địa lý như vậy sẽ dẫn đến thuận lợi trong giao thương, trao đổi: “là nơi gặp gỡ quan trọng của bốn phương đất nước”. thủ đô mới này sẽ hoàn thành vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của đất nước.

Trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, lòng yêu nước được thể hiện trực tiếp trên nhiều phương diện.

tác giả miêu tả những thử thách và tội ác của kẻ thù: “thấy sứ giả của giặc đi ngoài đường, bẻ lưỡi diều hâu chửi triều đình, dùng thân dê, chó để uy hiếp. vizier Mưu cầu tìm ngọc và lụa, để thỏa mãn lòng tham vô tận của mình, giả làm vua Vân Nam, thu vàng bạc, đào kho báu có hạn, chẳng khác nào cho hổ đói ăn thịt, kẻo tai họa xảy ra! ! ” qua những cụm từ đó, bộ mặt của kẻ thù được phơi bày và tác giả cũng bộc lộ lòng căm thù, khinh bỉ tột độ đối với chúng. Điều này được thể hiện rõ qua cách tác giả sử dụng các phép ví von, ẩn dụ: lưỡi diều, thân dê, con chó, con hổ đói, …; các hình ảnh được đặt ở vị trí tương phản để thể hiện lòng căm thù, khinh bỉ: bẻ lưỡi diều hâu – xúc phạm triều đình, mang thân dê chó – ức hiếp cha.

sau khi tố cáo hành động tàn bạo của kẻ thù, Trần quốc tuấn đã bày tỏ lòng yêu nước và căm thù giặc, đây có thể coi là đoạn hay nhất của bài thơ: “Bữa đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối. ; ruột đau như cắt, nước mắt tuôn trào; chỉ hận chưa mổ, lột da, nuốt gan và uống máu kẻ thù, dù trăm xác nằm khô trên cỏ, nghìn xác còn lại. được bọc trong da ngựa, tôi sẽ hài lòng. ” nỗi đau trước cảnh nước mất nhà tan được diễn tả một cách đau đớn: quên ăn, mất ngủ, lòng đau như dao cắt, nước mắt tuôn rơi. nỗi uất hận lên đến tột cùng khi tác giả bộc lộ thái độ đối với kẻ thù: chỉ hận chưa mổ da, nuốt gan, say máu kẻ thù. vị tướng đã xác định một tinh thần xả thân vì Tổ quốc: dù trăm thân phơi trên cỏ, ngàn bọc da ngựa, ta cũng mãn nguyện. Qua đoạn văn này khắc họa rõ nét hình ảnh người anh hùng yêu nước sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. những lời tâm huyết của vị tướng có sức lay động mạnh mẽ, truyền cho họ lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sôi sục, thái độ xả thân, chấp nhận hy sinh vì lợi ích của nhân dân. .

không chỉ vậy, tấm lòng yêu nước của vị tướng đáng kính còn được thể hiện sâu sắc trong tấm lòng của một vị tướng đối với binh lính của mình: “các ngươi đã cùng ta canh giữ binh quyền bấy lâu nay, (…) khi xung trận thì sống chết có nhau, lúc ở nhà thì cùng cười ”. thật là một tấm lòng của người cha và cảm động!

Có thể nói, tinh thần yêu nước của các tác giả được thể hiện qua hai văn bản “dời đô” của Lý thai thành và “Hịch tướng sĩ” của Trần quốc tuấn rất đa dạng và có nhiều cách nhìn nhận khác nhau. tuy nhiên, họ đều có chung khát vọng về một đất nước hòa bình và thịnh vượng. tấm lòng ấy không chỉ được thể hiện sâu sắc qua hai văn kiện mà còn được thể hiện qua hai nhà lãnh đạo tài ba qua những đóng góp thiết thực của họ vào câu chuyện hào hùng trong quá trình phát triển của dân tộc.

bài đăng trước:

  • hướng dẫn soạn bài tập số 5 – sgk ngữ văn 8

bài đăng tiếp theo:

  • luyện câu phủ định, sgk ngữ văn 8 tập 2

xem thêm:

  • Các bài học ngữ văn lớp 8 khác:
  • Để học tốt môn Toán lớp 8
  • Để học tốt môn Vật lí lớp 8 lớp 8
  • để học tốt môn hóa lớp 8
  • học tốt sinh học lớp 8
  • học tốt lịch sử lớp 8
  • để học tốt môn địa lý. Vật lý lớp 8
  • để học tốt Tiếng Anh lớp 8
  • để học tốt Tiếng Anh thí điểm lớp 8
  • để học tốt Tin học lớp 8
  • để học tốt ở lớp 8

trên đây là hướng dẫn soạn giáo án đầy đủ và ngắn gọn nhất, ngắn gọn nhất để biên soạn một giáo án đầy đủ và ngắn gọn nhất. chúc may mắn với công việc ngữ pháp của bạn!

“Bài tập nào khó, có giabaisgk.com“

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn hóa

Related Articles

Back to top button