TOP 14 bài Thuyết minh về lễ hội ở địa phương em – Văn 10

Bạn đang quan tâm đến TOP 14 bài Thuyết minh về lễ hội ở địa phương em – Văn 10 phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

kể về lễ hội truyền thống hay thể hiện không khí sôi nổi thời đại là một trong những đề văn hay trong bài văn mẫu lớp 10 đề 4. tài liệu gồm dàn ý và 14 bài văn mẫu hay nhất, giúp học sinh có thêm gợi ý ôn tập, nâng cao kiến ​​thức để nhanh chóng viết được bài văn thuyết phục cho riêng mình.

Việt Nam có rất nhiều lễ hội truyền thống gắn liền với văn hóa và phong tục tập quán của người Việt. Vì vậy, để hoàn thiện bài văn thuyết minh về ngày hội truyền thống dân tộc, các em học sinh lớp 10 có thể tham khảo 14 bài văn mẫu dưới đây để có thêm gợi ý hay cho bài văn của mình. Chúc các bạn làm bài thi tốt nhất và đạt điểm cao.

Bạn đang xem: Thuyết minh về lễ hội

trình bày sơ lược về lễ hội truyền thống

i. mở đầu

giới thiệu một lễ hội thể hiện nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện không khí sôi động của mùa lễ hội.

ii. nội dung:

trình bày các đặc điểm của lễ hội theo cấu trúc tạm kết hợp với cấu trúc lôgic.

– hiển thị thời gian của lễ hội, địa điểm và nguồn gốc của lễ hội:

  • thời gian cụ thể (gắn với ý nghĩa lịch sử như thế nào).
  • địa điểm tổ chức lễ hội.
  • nguồn gốc, lý do tổ chức lễ hội (tôn vinh vẻ đẹp của truyền thống, phong tục hoặc thể hiện không khí sôi động của thời đại).

– giới thiệu các công việc chuẩn bị cho lễ hội:

  • chuẩn bị các tiết mục văn nghệ.
  • chuẩn bị trang trí, dọn tiệc (nếu là tiệc truyền thống thì chuẩn bị rước kiệu, trang trí phao thi, chọn người,…).
  • chuẩn bị địa điểm…

– trình bày các sự kiện của lễ hội theo thứ tự thời gian. Nói chung, lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội.

    thể hiện tinh thần thời đại: tuyên bố lý do; các đại biểu phát biểu ý nghĩa và cảm xúc của lễ hội và các hoạt động trên sân khấu (như hòa nhạc, diễu hành, ca nhạc, trò chơi vui nhộn, …)

– đánh giá ý nghĩa của bữa tiệc.

iii. kết luận:

khẳng định lại ý nghĩa của bữa tiệc.

Lưu ý: bài viết theo kiểu văn tự sự, có thể kết hợp thêm các yếu tố miêu tả (đặc điểm, diễn biến của lễ hội), biểu cảm (nêu cảm nghĩ về ý nghĩa của lễ hội). ngày hội); trình bày rõ ràng và hợp lý.

tường thuật một lễ hội truyền thống

<3

Từ bao đời nay, trong đời sống tâm linh của người Việt, họ luôn tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc của tinh thần văn hóa, đó là lễ hội đền hùng và ngày giỗ tổ hùng vương, được tổ chức vào ngày 10 tháng 10. 3 âm lịch. hàng năm lễ hội vẫn được tổ chức đúng với truyền thống văn hóa của dân tộc. Năm chẵn (5 năm một lần), giỗ tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Việc tổ chức tiệc rất nghiêm ngặt, gồm hai phần: lễ và tiệc.

Lễ hội rước kiệu được tổ chức trang nghiêm ở các đền, chùa trên núi hùng. Tại thượng điện, lễ dâng hoa, dâng hương được các đoàn đại biểu cấp ủy đảng, chính quyền, các địa phương trong cả nước, v.v. Tính đến chiều ngày 9, tất cả các trấn mà tổ chức tiệc cho phép rước kiệu về dâng lễ đã tập trung về nhà tàng dưới chân núi, trên đỉnh kiệu để đặt lễ vật. sáng sớm ngày 10, các phái đoàn tập trung tại một địa điểm trong thành phố Việt Trì, dẫn đầu là xe quân sự chở hoa cúng tiến hành đến chân núi. Các đoàn xếp hàng thứ tự đi sau kiệu lễ, lần lượt vào miếu cùng đội ca múa nhạc khu phố dơi bát tiền. Đến trước “Kim Cương Thiên Điện”, đoàn dừng chân, thành kính dâng lễ vật lên Thượng điện, Thượng điện. đồng chí nguyên thủ tỉnh (những năm chẵn đồng chí là nguyên thủ quốc gia hoặc đại diện lãnh đạo Bộ Văn hóa) thay mặt tỉnh và nhân dân cả nước đọc lời chúc mừng. Toàn bộ buổi lễ được hệ thống báo chí, truyền hình tường thuật hoặc tường thuật trực tiếp để nhân dân cả nước có thể theo dõi lễ hội. người dân cúng tế ở các đền, chùa trên núi, ai cũng thành tâm cầu xin tổ tiên chứng giám, che chở cho con cháu.

Lễ dâng hương sẽ diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đình, chùa và dưới chân núi. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa hơn ngày xưa. các loại hình văn hóa truyền thống và hiện đại đan xen. trong khu liên kết, nhiều cửa hàng lưu niệm, văn hóa phẩm, cửa hàng dịch vụ ăn uống, khu văn hóa… được tổ chức và duy trì nền nếp, trật tự. trong khu văn hóa còn lưu giữ các trò chơi dân gian như: Đu quay lộc, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, thi nấu lửa, đánh cờ người (cờ người) có chọn lọc …. trong một số năm qua. còn là các màn biểu diễn “bách khoa hài”, “rước chúa”, “cúng cơm thần” và trò chơi “nhồi thuốc” tại khu hội chợ. cạnh đó là sân khấu dành cho các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, tuồng, hát quan họ,… lễ hội ngày nay là nơi diễn xướng, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền. Các nghệ nhân Mường mang đến lễ hội tiếng trống đồng một thời vang lên trên đỉnh núi hùng vỹ, kêu trời làm mưa, nắng chan hòa, cho mùa màng bội thu, nhân dân hạnh phúc. Những làn điệu hò ví, giặm với những ca từ tinh tế, mượt mà đã tạo cho lễ hội đền Hùng một nét riêng, mang đậm nét văn hóa của vùng đất miền Trung quê cha đất tổ. Một điểm quan trọng nằm ở trung tâm lễ hội là Bảo tàng Hùng Vương, nơi lưu giữ vô số cổ vật chân thực từ thời các vua chúa hùng mạnh.

Thời đại chúng ta ngày càng góp phần tô điểm và phát huy vẻ đẹp của lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương. hàng năm, ý nghĩa tâm linh của lễ hội đền anh hùng đã trở thành nếp sinh hoạt truyền thống không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng của người Việt Nam. Không phân biệt tuổi tác, tuổi tác, tôn giáo …. tất cả trẻ em trên mọi miền đất nước, trẻ em sinh sống ở nước ngoài đều bình đẳng về tảo mộ tổ tiên, viếng chùa, dự lễ giỗ Tổ Hùng Vương.

tường thuật về lễ hội dâu tây ở bắc ninh

lễ hội là văn hóa tín ngưỡng của mỗi quốc gia. hầu như xã, thị trấn nào cũng có lễ hội đầu xuân. mỗi người dân thành phố bắc ninh thường có một bài hát:

<3

Câu thơ như một lời nhắc nhở các Phật tử nhớ đến lễ hội rước dâu được tổ chức hàng năm vào đầu xuân.

lễ hội rước dâu diễn ra vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Chùa Dâu là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được xây dựng vào đầu thế kỷ XV. tuy nhiên chùa Dâu vẫn giữ được những nét nguyên sơ từ khi mới xây dựng cho đến nay. Hàng năm, chùa Dâu thu hút rất nhiều tín đồ đến thắp hương, nhất là vào dịp lễ hội. Vào mỗi dịp lễ hội, nhân dân lại nô nức tổ chức tu sửa chùa chiền. từ chiều mùng 7 có cuộc diễu hành của các cô dâu, cô dượng, đàn cô và cô keo, theo truyền thuyết thì tứ bà được tạc từ cây dâu, chị là dâu nên chùa dâu. được xây dựng lớn nhất. riêng ngày mồng 7, các sư đến lễ bái, quét dọn, tắm rửa sạch sẽ trong chùa. Lễ hội diễn ra rất sôi động và náo nhiệt. tất cả mọi người đến đây với lòng thành kính, mong rằng ông trời sẽ ban cho họ sự bình an và thịnh vượng. Chùa có nhiều sảnh, hành lang, đặc biệt có tượng Kim Đồng ngọc nữ đạt tiêu chuẩn mỹ thuật cao với tỷ lệ người thật. hành lang hai bên có các bức tượng với các tư thế và nét mặt khác nhau. người dân đến với hố lễ hội không chỉ để thắp hương cầu bình an mà còn để vui chơi, đón không khí ngày xuân. Có rất nhiều trò chơi diễn ra trong lễ hội như đu quay, hát quan họ, giao duyên giữa các anh chị em dưới thuyền rồng trong trang phục truyền thống. Dọc sân chùa có các cửa hàng bán đồ cúng, nhang đèn hay đồ chơi phổ biến của trẻ em như sáo, trống … hay đơn giản là hoa lan tỏa hương. tất cả tạo ra một bầu không khí cộng đồng thân thiện. ai cũng quên đi những xô bồ, những thử thách để nhớ đến phật và thánh, nhớ lòng thanh thản. khoảng 7 giờ sáng m. Vào ngày 8/4, người dân lắng nghe tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng đàn tế lễ để cầu bình an, lạy thần, phật pháp của đội tế tứ sắc do nhà chùa lập ra. Đặc biệt, lễ hội Dâu thờ bốn vị Pháp chủ: Pháp văn (vợ chồng), Pháp vũ, Pháp điện, Pháp sấm.

Sau khi các bô lão làm lễ xong, đoàn rước từ miếu tổ bắt đầu trở về và đoàn người cùng hộ tống. người thứ nhất cầm chai nước, người thứ hai dâng hương, tiếp đến là đoàn rước do các em nhỏ trong lồng. họ ăn mặc như những quả đậu đỏ cũ, theo sau là những quý bà mặc áo cánh nâu. người gánh nước vừa đi vừa cầm cành tre tạt nước vào những người xung quanh như mang lại may mắn cho mọi người. Người ta tin rằng ai được vẩy nước sẽ gặp nhiều may mắn, được Phật phù hộ cả năm và được Phật che chở, bảo vệ. Khi lễ hội kết thúc, tất cả đều về nhà và thắp hương trong sân, ghi nhớ lời hẹn ước năm sau sẽ gặp nhau. Nhưng điều thú vị là hầu như năm nào sau lễ hội, trời cũng đổ mưa và người dân coi đây là lễ tẩy rửa đền thờ, ở khía cạnh nào đó, đây được coi là một phép màu kỳ bí.

lễ hội thể hiện trình độ tổ chức cao, sự kết hợp giữa các dân tộc và ý thức cộng đồng, thu hút du khách thập phương với những nét văn hóa nghệ thuật độc đáo và phong phú. Đối với Bắc Ninh, cái nôi của Phật giáo, đây là dịp để thể hiện tài năng, sự tinh tế, thanh tao trong văn hóa ứng xử, giao tiếp. Là người con Bắc Ninh, tôi tự hào về những truyền thống của quê hương mình và sẽ luôn có ý bảo vệ, gìn giữ những nét văn hóa đó, đặc biệt là những lễ hội truyền thống đậm đà văn hóa dân tộc Việt Nam trong những ngày đầu xuân.

câu chuyện về lễ hội đua voi ở tây nguyên

Tây Nguyên là vùng đất hùng vĩ của những cao nguyên đất đỏ nhiều lớp, được Mẹ thiên nhiên ưu ái ban tặng cho những cánh rừng xanh bạt ngàn, những vùng đất đỏ bazan màu mỡ và khí hậu ôn hòa quanh năm. Nơi đây quy tụ nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, những con người chân chất, đậm đà bản sắc của vùng núi sơn cước. Tây Nguyên có thể nói là cái nôi của những bản anh hùng ca huyền thoại, là vùng đất giàu truyền thống văn hóa đặc sắc và núi rừng linh thiêng. đua voi là một trong những lễ hội hấp dẫn và độc đáo của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

lễ hội được tổ chức vào tháng 3 âm lịch, cứ hai năm một lần lại có lễ hội như vậy. mùa xuân được chọn là mùa tổ chức lễ hội đua voi để cầu chúc một năm mới an khang, hạnh phúc, thịnh vượng cho dân làng, tạo nên không khí tưng bừng, náo nhiệt làm say lòng bất cứ ai đặt chân đến đây. voi là loài vật biểu tượng của núi rừng Tây Nguyên, chúng được thuần hóa từ lâu đời và là vật nuôi rất hữu ích, thân thiện với con người. họ giúp người dân kéo gỗ, chất hàng, vận chuyển hàng hóa và đặc biệt họ được đào tạo để biểu diễn tại các lễ hội, tại các vườn thú. Voi là loài động vật to lớn nhưng thuần phục, thông minh và có khả năng ghi nhớ rất nhanh, chính vì vậy mà chúng đã trở thành người bạn thân thiết, gắn bó lâu đời với người dân Tây Nguyên cả trong chiến tranh lẫn cuộc sống đời thường. đây được coi là loài vật linh thiêng và được người dân yêu quý, tôn sùng như một biểu tượng mạnh mẽ của vùng đất cao nguyên đầy nắng gió.

Quả thật, Tây Nguyên là vùng đất có không khí thích hợp để tổ chức các lễ hội vui nhộn. Lễ hội đua voi được tổ chức tại Đắk Lắk nhằm tôn vinh truyền thống văn hóa, tinh thần nghĩa hiệp và tài năng. nghệ thuật cưỡi voi ở Tây Nguyên. Lễ hội đua voi được tổ chức cùng với các lễ hội khác như: lễ cúng suối nước, cúng sức khỏe voi, lễ ăn trâu mừng mùa (lễ đâm trâu), lễ cúng lúa mới (lễ cầu mùa), văn hóa cồng chiêng. .. mọi người tin vào một năm mới an lành, mùa màng bội thu, nhà cửa hạnh phúc.

Lễ hội đua voi được tổ chức rất hoành tráng nhưng chỉ diễn ra trong một ngày. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị đã diễn ra từ vài tháng trước, những chú voi tham gia sẽ được chủ nhân đưa ra đồng cỏ xanh mướt, ăn uống đầy đủ các loại rau củ quả như: đu đủ, mía, … Không phải làm việc mà nghỉ ngơi để giữ sức thi đấu nên mỗi chú voi đều béo tốt và tràn đầy năng lượng. trong ngày hội, các chú voi hăng hái tập trung ở bãi đất trống rộng lớn để tranh tài, trên bãi đất bằng phẳng các chú voi phải trải qua ba phần thi hấp dẫn: voi thần tốc, voi bơi qua sông vây. repok., con voi đá bóng. đồng bào từ khắp các tỉnh thành Tây Nguyên đến vui hội, những bộ trang phục sặc sỡ, những tràng pháo tay nồng nhiệt càng làm cho lễ hội thêm phần sinh động, náo nhiệt. hơn nữa, du khách khi đến tham quan còn được hòa mình vào không khí lễ hội và còn được thưởng thức những món ăn đặc sản, đậm đà hương vị núi rừng Tây Nguyên.

câu lạc bộ đua voi bắt đầu khi trọng tài nổi còi báo hiệu cuộc đua sắp bắt đầu, những chú voi thông minh, mạnh mẽ, dưới sự dẫn dắt của những con dũng cảm và mạnh mẽ. lực lượng mạnh nhất từ ​​mỗi làng tiến vào vạch xuất phát. , từ từ quỳ xuống bằng bốn chân, như một lời chào thân thiện dành cho các hoạt náo viên. Thông thường một đội đua gồm hai cậu bé được gọi là mangad, mặc quần áo bằng thổ cẩm màu, có thể buộc vải màu lại với nhau để phân biệt các đội. Thủ tục chào cờ kết thúc, trọng tài thổi một hồi còi khác, tiếng này dứt khoát và to hơn, để bắt đầu cuộc đua, các chú voi tiến lên trước sự cổ vũ nhiệt tình của khán giả, tiếng cồng chiêng, tiếng reo hò vang dội như tiếp thêm tinh thần. của mỗi vận động viên. voi tiếp tục lên đường, cậu bé ngồi đầu dắt voi luôn cúi sát vào lưng voi để ổn định cơ thể, tránh sức cản của không khí, giúp voi chạy nhanh hơn. mắt luôn thận trọng quan sát xung quanh và điều khiển voi bằng một thanh sắt nhọn dài khoảng 1m, mỗi khi voi chạy chậm lại, chúng dùng thanh sắt đâm vào mông khiến voi nhảy lên bị thương, ngay lập tức bật dậy bỏ chạy. nhanh hơn. Nhưng không chỉ chạy nhanh, voi còn phải chạy trên đường đi của mình, đây là nhiệm vụ của người ngồi sau, họ sẽ dùng một cái búa gọi là vồ, đập vào mông của con voi để nó chạy thẳng vào. đi đúng hướng, tránh xâm phạm làn đường của đội khác, đi theo tuyến đường đã đánh dấu. càng gần về đích, tiếng hò reo, cổ vũ càng lớn và tiếng chiêng, tiếng trống vang lên, náo nhiệt cả khu vực càng lớn, các chú voi thấy vậy cũng nỗ lực hết mình để về đích. lễ hội đua kết thúc, những chú voi trở về làng với niềm tự hào và kính trọng của người dân nơi đây.

Lễ hội đua voi kết thúc đã mang lại cho thị trấn cùng nhau ăn, uống và vui chơi. tiếng cồng chiêng vang lên say đắm, trai gái nắm tay nhau múa quanh đống lửa sáng. các cụ già say sưa trò chuyện vui vẻ. lễ hội như gắn kết mọi người lại với nhau, gần gũi, thân thiết, mang lại màu sắc tươi mới cho vùng đất núi non hùng vĩ.

Lễ hội đua voi từ lâu đã trở thành bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc trên mảnh đất Tây Nguyên nắng gió, chứa đựng màu sắc của những anh hùng thượng võ và lối sống quật cường của người dân nơi đây từ xa xưa. Đến bản Đôn, du khách sẽ được tự do thả hồn vào thiên nhiên núi rừng thơ mộng, khám phá những nét văn hóa đặc sắc, độc đáo, thưởng thức ẩm thực phong phú, đa dạng. Ngày nay, lễ hội đua voi không còn gói gọn trong nét văn hóa của người don mà đã trở thành một lễ hội du lịch thú vị thu hút du khách gần xa.

tường thuật về hội lim

“Làng quan họ quê tôi vào tháng Giêng múa, hát, lễ, hát cầu sông cầu mong làng xanh, quanh làng quan họ xanh”

Với bao câu thơ, chúng ta có nhiều cảm xúc về một lễ hội truyền thống được nhiều người mong chờ: lễ hội lim. nơi mà những làn điệu quan họ đã ăn sâu vào huyết quản của người dân Kinh Bắc nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

nói đến khu vực phía Bắc là nói đến một vùng đất đã để lại dấu ấn đậm nét với những dấu ấn lịch sử văn hóa đặc sắc của dân tộc. mỗi bước chân trên trái đất này, mỗi công trình kiến ​​trúc đều mang dấu ấn của thời gian, của những thăng trầm mà dân tộc ta đã trải qua. và hội là một dấu ấn không thể xóa nhòa ở đó.

Lễ hội vôi là một lễ hội truyền thống thường được tổ chức hàng năm vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch ở huyện Tiên Du. đây được coi là một trong những nét văn hóa đặc trưng của vùng Bắc Bộ. mặc dù thời gian chuyển động liên tục nhưng những giá trị đó không bị mất đi hay mất đi. Cho đến ngày nay, lễ hội lim không còn chỉ là một yếu tố văn hóa vùng miền mà đã vượt không gian để trở thành điểm dừng chân lý tưởng đầu năm của du khách.

Theo truyền thuyết, lễ hội lim có nguồn gốc từ hội đền có liên quan đến tiếng hát của thanh niên làng lim. Thuyết này dựa trên câu chuyện tình yêu của Trương chi – phu nhân và tính chất của lễ hội lim cũng nghiêng về các lễ hội sinh hoạt văn hóa và hát quan họ.

Nói đến tuổi thọ thì có lẽ hội lim có lịch sử rất lâu đời và phát triển từ quy mô toàn hội. Trong các cuộc kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp, mãi đến sau khi đổi mới, ông mới bắt đầu trở về với đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng.

Ngoài ra, lễ hội lim còn có một ý nghĩa là bày tỏ lòng thành kính, biết ơn đối với người con hiếu thảo đã có công khai sáng ra nghề làm quan. Lễ hội Lim được tổ chức tại 3 xã chủ yếu là Nội Đôi, Liên Bão và thành phố Lim. thời gian diễn ra lễ hội thường kéo dài từ 3-4 ngày, trong đó ngày 13 âm lịch là ngày hội chính, gồm hầu hết các hoạt động như thi nấu ăn, hát quan họ, đấu vật … mở đầu là lễ rước với nhiều thành viên mặc trang phục cổ trang, sau đó các anh, các chị sẽ đứng quanh lăng hát cho nhau nghe. gặp quan họ được coi là phần hấp dẫn nhất của hội lim, liền anh em ngồi thuyền thúng ra giữa ao rồi cất tiếng hát ngọt ngào. đây cũng là cơ hội để nam nữ thanh niên xích lại gần nhau, tìm được người bạn tâm giao.

lễ hội vôi đã làm say lòng nhiều du khách từ khắp nơi trên thế giới. với những bản tình ca ngọt ngào, trữ tình, những cử chỉ dịu dàng, e ấp của những người anh, người chị …. nó không chỉ thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn thể hiện truyền thống yêu nước. nhớ về cội nguồn quý giá của quê hương.

tường thuật lễ hội mười giong

Vui hội, náo nhiệt là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Người Việt tổ chức lễ hội để bày tỏ lòng biết ơn đối với các đấng siêu nhiên như thần thánh hay anh hùng dân tộc. Lễ hội Gióng cũng là một lễ hội mang ý nghĩa thiêng liêng như vậy nhằm tôn vinh thánh gióng, tức là phu đồng thien tích.

Lễ hội là lễ hội truyền thống nhằm tưởng nhớ và ca ngợi công đức của vị anh hùng thánh Gióng, một trong tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Lễ hội mô phỏng sinh động các trận đánh của các Thánh và nhân dân Văn Lang trong cuộc chiến chống giặc Ân, từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng về các hình thức chiến tranh bộ lạc cổ xưa. thời đại giáo dục lòng yêu nước, truyền thống thượng võ, ý chí quật cường và khát vọng độc lập. và quyền tự do của quốc gia.

Lễ hội cồng chiêng được tổ chức ở nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Bộ, nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội ở các đền phủ, phủ Hà Nội. Lễ hội tại đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) diễn ra vào ngày 6 đến 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc an, phủ linh là nơi dừng chân cuối cùng của vị thánh trước khi bay về trời.

Để tưởng nhớ công ơn của thánh thần, tại đây, nhân dân đã xây dựng khu di tích đền soc gồm 6 công trình: đền hạ (còn gọi là đền trinh), chùa đại bi, đền mẹ, đền thượng (còn gọi là sóc. chùa), tượng thánh gióng và nhà bia. trong đó, thượng điện là nơi thờ thánh và thực hiện phần hội với đầy đủ các nghi lễ truyền thống như: Lễ mộc dục; quá trình; lễ dâng hương; nghi lễ voi và ngựa…

Để chuẩn bị tiệc chính, đêm mùng 5 tổ chức tiệc mộc dục (tượng phòng tắm) để mời thánh tổ đến dự tiệc. Vào ngày mồng sáu của lễ hội, nhân dân 8 thôn thuộc 6 xã nằm xung quanh khu di tích đền Sóc là Tân Minh, Y Tiên, Phù Linh, Dư Hòa, Xuân Giang và Bắc Phú dâng lễ vật được chuẩn bị chu đáo. cầu mong người cha phù hộ cho dân làng một cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

nơi lần đầu tiên tổ chức lễ dâng hoa tre lên đền thượng thôn Vệ linh (xã phú linh). hoa tre được làm bằng những thanh tre dài khoảng 50 cm, đường kính khoảng 1 cm, đầu tre được tuốt và nhuộm màu để tượng trưng cho roi ngựa của thánh nhân. Những bông hoa trúc sau khi cúng xong lên chùa trên sẽ được đưa xuống chùa dưới và phân phát cho những người tham gia lễ hội để cầu may.

vào sáng ngày mồng 7 chính hội (ngày thánh theo truyền thuyết), cảnh bắn hạ tướng giặc khắc họa 3 tướng giặc cuối cùng dưới chân núi Vệ Linh trước khi bay về trời. Chiều mùng 8, lễ hội voi và ngựa giấy lớn được tổ chức để kết thúc lễ hội vì voi chiến và ngựa sắt là hai linh vật gắn liền với quá trình chiến thắng và ngựa sắt là hai. nó gắn liền với quá trình thiêng liêng đánh giặc, bảo vệ ruộng đồng.

tất cả du khách tham gia lễ hội đều mong đoàn kết đưa voi, ngựa đến bờ sông để hóa thân vì theo tín ngưỡng, ai chạm tay vào vật tế thánh sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Trong lễ hội, nhiều trò chơi dân gian cũng được tổ chức như chọi gà, cờ tướng, hát ca trù, hát chèo …

Lễ hội ở đền phủ đồng giống như một nhà hát dân gian lớn với hàng trăm tiết mục được trình diễn theo một kịch bản chuẩn. trong đó mỗi vai diễn đều chứa đựng những ý tứ rất sâu sắc như: “ông là chức tước” họ là tướng của các bậc thánh hiền; “Phu giá” là quân chính quy của thánh hiền; các “thiếu tướng” đại diện cho 28 đội quân xâm lược của một triều đại; “mr hổ” là tướng quân; “làng áo đỏ” là đội quân trinh sát trẻ trung; “những người mặc áo đen” là đội dân quân …

Xem thêm: Top biên bản làm việc tiếng anh

Ngoài ra, lễ hội còn có các lễ rước như: “rước đường” là đi dò la giặc giã; “rước nước” là tinh luyện vũ khí trước khi xuất quân; việc “rước đồng đập” là để thương lượng, xin hòa; “Diễu hành của trận chiến của bia” là một mô phỏng cách điệu của các trận chiến ác liệt …

Giá trị toàn cầu nổi bật của hiệp hội thể hiện ở chỗ nó là một hiện tượng văn hóa được bảo tồn, lưu truyền khá liên tục và trọn vẹn qua nhiều thế hệ. lễ hội còn mang vai trò gắn kết cộng đồng, chứa đựng nhiều ý tưởng sáng tạo, thể hiện khát vọng đất nước thái bình, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Về mặt nghệ thuật, lễ hội mang trong mình nhiều nét đẹp và giá trị đặc trưng của lễ hội như rước, cờ, trống, chiêng, các trò diễn dân gian, múa kỵ binh, múa hổ … vào ngày 16/11/2010, tại thành phố nairobi (thủ phủ của kenya), trong kỳ họp thứ 5 của ủy ban liên chính phủ theo đại hội unesco năm 2003, hiệp hội đã được chính thức công nhận tại các chùa phú đồng và soc. đại diện di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. UNESCO đã ghi nhận một cách ngắn gọn và đầy đủ về lễ hội là “một bảo tàng văn hóa của Việt Nam, lưu giữ nhiều tầng văn hóa và tôn giáo”.

giải thích về lễ hội chọi trâu

Mỗi vùng đất có một phong tục riêng. và lễ hội cũng vậy, không có hai miền nào giống nhau. đây là những gì làm cho khu vực độc đáo. Tháng Giêng vừa rồi, tôi có dịp đi Hải Phòng và xem lễ hội chọi trâu. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một cảnh chọi trâu ấn tượng như vậy.

Lễ hội chọi trâu không phải vùng nào cũng có, ở quê tôi cũng không có lễ hội đó. Ở Hải Phòng, lễ hội chọi trâu được tổ chức vào mùa xuân. vì đây là lúc mọi người có thời gian vui chơi, thư giãn và tham gia các lễ hội mùa xuân.

tại đây bà con chuẩn bị một sân rất rộng và rộng, hai làng sẽ chuẩn bị hai con trâu khỏe nhất để chọi nhau. trâu ngã trước thì thua và ngược lại. Hai con trâu chọi có màu lông sẫm, da bóng trông rất khỏe khoắn và đầy sức mạnh. đôi mắt lấp lánh của hai con trâu tiếp tục nhìn nhau.

Hai con trâu bắt đầu tiến lại gần, chân dập xuống đất và mũi không ngừng thở. những chiếc sừng trâu cong vút, khỏe khoắn dường như đang chuẩn bị bước vào trận chiến khốc liệt và đẫm máu nhất. hai con trâu liên tục chạy vào nhau, sừng cọ xát, va chạm và xô đẩy nhau bất phân thắng bại.

xung quanh tiếng hò reo của người dân, không khí của lễ hội chọi trâu trở nên sôi động và vui nhộn hơn bao giờ hết. hai con trâu chọi nhau trên bãi cỏ, vồ vồ nhóm nhổ trơ trọi trên mặt đất. đôi khi con trâu khác lao vào con trâu này, khiến chân con trâu này chìm xuống một hố cạn, nhưng cũng đủ để người xem cảm thấy trận chiến đang diễn ra ác liệt.

Con trâu ở làng sau do khỏe hơn và lâu hơn nên đã húc trâu làng bạn một lần. nhưng may mắn thay, con trâu kia có sức chống cự nên đã bình phục. cả hai anh chàng vẫn khiến trái tim người xem loạn nhịp không biết bao nhiêu lần. nhưng cuối cùng con trâu to nhất làng bên đã húc con trâu kia phải khuỵu xuống, kết quả hội chọi trâu được công bố. Tôi rất ấn tượng với lễ hội này ở Hải Phòng.

nói về lễ hội chùa

Việt Nam là quê hương của lễ hội nên cứ vào dịp đầu xuân khắp nước ta lại rộn ràng không khí lễ hội, người người đổ về các nơi có lễ hội hành hương, lễ phật cầu an. Những điều tốt đẹp sẽ đến cho bạn và gia đình bạn. Đây là một tín ngưỡng lâu đời và lễ hội cũng đã trở thành một nét đẹp văn hóa của Việt Nam.

Tôi cũng rất may mắn khi được chứng kiến ​​sân khấu lễ hội đầy linh thiêng nhưng cũng không kém phần náo nhiệt. Đó là lần tôi cùng bà ngoại đi dâng hương ở một ngôi chùa gần nhà, nhất là khi tôi và bà ngoại đi vào dịp lễ kiết tường nên tôi có dịp chứng kiến ​​nhiều cảnh tượng khó quên của không khí lễ hội ấy. .

Lễ hội mà tôi may mắn được tham dự là lễ hội đền bia, đây là lễ hội thường diễn ra vào ngày 20 tháng Giêng hàng năm. tức là sau tết âm lịch, người dân vùng này tất bật chuẩn bị mọi thứ cho lễ hội. Đền bia là một ngôi đền thuộc xã Cẩm văn, huyện Cẩm giang, tỉnh Hải Dương, đây là ngôi đền thờ danh y đại danh y trí tuệ, một danh y Việt Nam không chỉ về tài năng mà còn về đức độ. / p>

Người ta kể rằng ngày xưa, đại danh y họ Tĩnh được vua cử đi sứ sang Trung Quốc, tại đây nhờ tài năng y thuật siêu việt, ông đã chữa khỏi bệnh cho Tống Vương, hoàng hậu của nhà Minh. Từ đó, ông được kính trọng, vua Minh phong cho ông là “Đại thiền sư y thuật”, nên ông không thể trở về quê hương mà phải ở lại Trung Quốc.

Dù xa quê hương nhưng trong lòng không ngừng nghĩ một phút giây về quê hương, khi mất ông dặn mọi người khắc dòng chữ trên bia mộ của mình “ai đi về phía nam, hãy để tôi đi”, đây là niềm khát khao thiết tha đối với sự khôn ngoan Sau đó có một bác sĩ tên là nguyễn danh nho tình cờ đi ngang qua, khi đọc được những dòng tâm nguyện này ông rất xúc động nên đã khắc dòng chữ này lên tấm bia khác và mang về quê hương như để cầu cứu danh sĩ. điều ước.

nhưng trên đường trở về, thuyền bị lật, bia đá rơi xuống nước không tìm thấy ở đâu và nơi bia rơi là xã Văn thai ngày nay. và khi nước cạn, người dân đã tìm thấy tấm bia này. Để tưởng nhớ vị danh y, người dân nơi đây đã dựng đền thờ và gọi là đền thờ bia.

Cứ sau tết âm lịch hàng năm, dòng người từ khắp nơi lại đổ về đây để dâng hương và cầu mong những điều tốt lành, bởi nơi đây nổi tiếng là ngôi chùa linh thiêng, cầu may. , tiền bạc hay vận may mà mọi người đều muốn xem.

Hôm đó, tôi và bà ngoại đi lễ chùa này nên đặc biệt đông đúc và tấp nập, con đường dài dẫn vào chùa chật ních xe máy và ô tô bên đường. nhau đến chùa để lễ bái. Tôi và bà ngoại đã phải rất vất vả mới vào được chùa. May mắn thay, ngay khi chúng tôi đến nơi, lễ rước tượng đã bắt đầu diễn ra.

Vẫn là khung cảnh đông đúc, nhưng khi lễ rước bắt đầu, dòng người hành lễ đứng trật tự hai bên đường, tạo không gian cho đoàn rước đi qua. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi cảm thấy không khí lúc đó có chút gì đó linh thiêng và thành kính hơn và mặc dù không hiểu nhiều nhưng tôi đã đi theo cô ấy, xem đám rước với một tấm lòng thành kính.

đoàn rước tượng gồm mười lăm người, trong đó có một đoàn năm người tài trí khiêng kiệu của đại tiến sĩ, là tượng đỏ ngồi uy nghiêm, trang nghiêm trên ghế đỏ. Xung quanh chiếc kiệu đó là một tấm màn đỏ trông thật huyền bí. những người còn lại thì cầm cờ, đánh trống, đánh chiêng rất náo nhiệt.

Khi bước vào chùa, mọi người đều thành tâm thắp hương cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến với mình, với đủ mọi lứa tuổi, kể cả bà, cô, mẹ và các anh, các chị. tất cả họ đến đây với sự tôn trọng. Trước chùa có một lư hương rất lớn, đây là nơi mọi người dâng hương.

ba bảo vật và các đền thờ xung quanh không thể thắp hương vì du khách thập phương về quá đông, nếu thắp hương quá nhiều có thể sinh ra khói và gây cháy. khuôn viên chùa cũng rất đông đúc, có các vị sư ngồi viết chữ thảo, các vị thần đọc quẻ, tất cả đều náo nhiệt vô cùng.

Đây là lần đầu tiên tôi đến chùa trong một lễ hội như vậy. Qua buổi lễ hôm đó, tôi cũng có thêm nhiều hiểu biết và ấn tượng về lễ hội ở đền bia. Em cũng thành tâm cầu chúc sức khỏe cho ông bà, cha mẹ và em cũng muốn học thật giỏi để không phụ lòng cha mẹ.

giám sát lễ hội

Cứ đến đầu tháng 3 âm lịch, mọi người ở quê tôi lại nô nức chuẩn bị đi trẩy hội. theo lời ông cha kể lại: hàng năm, ngày mồng sáu tháng ba âm lịch là ngày tưởng nhớ công chúa liễu hanh ở làng kim thai, làng văn cát, cách làng tôi chừng 10 cây số.

Sáng nay cả nhà dậy rất sớm, ăn tối và còn thức đêm để chuẩn bị liên hoan. mọi người ăn mặc rất đẹp, tôi và con tôi “diện” những bộ quần áo mới nhất. Khi ra đến đường chính, tôi thấy một nhóm người vừa đi vừa cười nói, gia đình tôi cũng tham gia vào nhóm để vui chơi.

khoảng 8 giờ, bạn sẽ được bảo hiểm. xin chào! Tất cả các con đường dẫn đến ngôi đền chính đều chật cứng người. ô tô, xe máy bấm còi inh ỏi nhưng không thể qua nhanh. có khi mẹ phải bế con đi qua chỗ đông người, tôi phải nắm chặt tay bố để không bị lạc.

Khi tôi đến trước ngôi đền chính, đầy những người mặc những chiếc khăn sặc sỡ, nhảy múa và ca hát khi họ bước đi. chính điện là một dãy nhà to lớn với ba lầu chuông, càng vào sâu, đồ thờ càng uy nghi, lộng lẫy ẩn hiện trong khói hương nghi ngút.

Sau khi rời khỏi đền chính, cha tôi đưa chúng tôi đi thăm lăng mộ của hoàng hậu. Chuyện kể rằng xưa kia, trong một giấc mơ, nàng kể cho vua nghe một hoàng tử sinh ra một hoàng tử, nên vua đã cho đem theo ngũ sắc và nhiều loại gỗ quý bằng gỗ quý để xây một lăng rất to và đẹp.

Trước khi đi, chúng tôi còn đến thôn kim thai để xem ngôi chùa nhỏ, còn có một cây chuối thần cách đây vài năm đã nở hoa phòng từ 120 đến 150 chùm. Đi ngang qua cửa hàng, bố mua cho hai anh em một chiếc trống ếch, chơi “bông” rất vui.

sau khi rời đi một quãng đường xa, tôi vẫn ngoái lại nhìn để thấy khung cảnh hùng vĩ và đẹp đẽ biết bao. Từ bao đời nay, những người thợ xây và thợ mộc đã góp phần xây dựng nên một di tích lịch sử về bà hoàng hoa liễu và vẻ đẹp của quê hương Nam Định mà nhiều người đi xa thường nhớ về.

tường thuật về lễ hội chùa trầm hương

Lễ hội chùa trầm hương đã có từ rất lâu đời. Hàng năm vào ngày 6 tháng Giêng sau Tết Nguyên đán, lễ hội bắt đầu và kéo dài gần hết mùa xuân. Du khách thập phương, Việt kiều và du khách nước ngoài đổ về đây để cầu một năm mới an lành và đắm mình trong chốn bồng lai tiên cảnh Hương Sơn.

Danh thắng Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 70 km về phía Tây Nam. đi ô tô qua hà đông city, van dinh, thẳng đến bến tàu thì dừng. từ đây là lãnh địa của hương sơn. du khách xuống thuyền đi dọc theo con suối xanh biếc chảy giữa hai bên cánh đồng lúa. trước mắt là dãy núi cửa chớp tím ngắt, ẩn hiện trong mây trắng, đẹp vô cùng!

Có thể nói, quần thể Hương Sơn là sự kết hợp tuyệt vời giữa kỳ công của tạo hóa với bàn tay tài hoa, khéo léo của con người. những ngôi chùa được xây dựng rải rác trên các sườn núi đá vôi, thấp thoáng dưới rừng cây xanh thẳm. Từ chân núi treo ngược lên hàng nghìn bậc đá dốc và gập ghềnh, khách hành hương sẽ lần lượt thắp hương ở chùa ngoài, rồi vào chùa trong, đến chùa công lý, chùa sơn môn với hang đá, động hương …

Mỗi ngôi chùa đều cổ kính, uy nghiêm, ánh nến lung linh giữa làn khói mờ ảo tạo nên không khí huyền bí, linh thiêng. mỗi người đến dâng hương với một tâm trạng, ước vọng riêng, nhưng chung nhất là cảm giác thoát khỏi những vướng bận đời thường, cả thể xác lẫn tâm hồn đều choáng váng, thoát khỏi trần thế.

Trên con đường dốc đá theo lối đó, dòng người ngược xuôi. già, trẻ, gái, trai ở mọi lứa tuổi, mọi vùng miền. làm quen qua câu chào: “namo amitabha buddha”. nhiều bà già đội khăn mỏ quạ, mặc áo nâu buộc ngang hông, cổ đeo tràng hạt, tay chống gậy tre, bước đi nhanh nhẹn như thanh niên nam nhi. âm thanh của “nam mo” leng keng khắp lối đi.

Hương Sơn có nhiều hang động, nhưng lớn nhất và thú vị nhất vẫn là hang động Hương Sơn. lên đây, du khách nhắm mắt nhìn ra bốn phía, mọi mệt mỏi sẽ tan biến, trong lòng bồi hồi xúc động lạ thường. những ngọn núi, những đám mây. Trên sườn núi, trong thung lũng sâu, hoa mai nở trắng như tuyết, hương thơm thoang thoảng trong gió xuân.

tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách vang vọng gần xa. thật là một bức tranh thiên nhiên đáng yêu. đứng ở cửa động, du khách vui vẻ hít hà bầu không khí trong lành, thơm mát trước khi xuống động. Động Hương Tích được chúa Trịnh sâm ca tụng là “Nam thiên đệ nhất động”. Nhìn từ bên ngoài, cửa động trông giống như miệng một con rồng khổng lồ đang há to.

hang động ăn sâu vào núi. đáy hang rộng và bằng phẳng có thể chứa vài trăm người. đèn và nến lung linh. nhũ đá và cột đá đủ hình dạng, kích thước lung linh sắc màu của cầu vồng. Nào là cù lao, cù lao, con tằm, cây kén, cây bạc, cây vàng, cây kén gạo … khách hành hương muốn cầu phúc, cầu tài, cầu duyên … chỉ cần thắp hương thành tâm khấn phật phù hộ độ trì. tốt.

đi lễ chùa hương phải mất ít nhất hai ngày mới có thể tham quan hết các chùa. Ngồi trong hang, nghe gió thổi tạo nên những bản nhạc du dương, ta sẽ đắm chìm trong không gian thơ mộng của xứ sở mộng mơ. Trên đỉnh núi có một tảng đá lớn bằng phẳng, tương truyền là bàn cờ thần tiên. mỗi năm tổ tiên xuống nóc nhà, đua tài cao thấp ở đó.

Có rất nhiều truyền thuyết khác gắn liền với chùa Trầm hương, làm nổi bật vẻ đẹp huyền bí và linh thiêng của thắng cảnh đẹp như tranh vẽ này. chia tay hương chùa, mỗi du khách đều có một thứ gì đó để mang về nhà làm kỷ niệm. xà cừ được buộc bằng sợi chỉ đỏ đeo quanh cổ để cầu may, một thanh tre đi suốt tuyến đường, một chuỗi hạt bồ đề, …

Du khách lên xe ra về với tâm trạng bùi ngùi, nhớ nhung và hi vọng vào mùa lễ hội năm sau. không ai bảo ai, ai cũng nhìn lại để khắc ghi vào tâm trí mình phong cảnh đẹp đẽ của làng nghề, thêm yêu và tự hào hơn về thổ cẩm.

tường thuật về lễ hội cầu ngư

lễ hội là một trong những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc ta, nó không chỉ là nơi vui chơi giải trí mà còn là nơi để nhân dân ta bày tỏ ước nguyện hay lời cảm ơn đến tổ tiên. mỗi quê hương đều có những lễ hội riêng, điển hình là lễ hội cầu ngư – lễ hội cầu ngư.

bạn có thể đề cập đến tên của lễ hội đó, chúng tôi cũng cần biết đó là lễ hội của ai. nói đến đánh bắt thì chỉ có người dân vùng ven biển kiếm sống bằng nghề đánh bắt. chính đặc điểm của nghề đó quyết định niềm tin của họ. người dân sống ven biển miền Trung thường có tục thờ ông ngư. Chính vì vậy họ thường tổ chức họ hàng năm cùng năm với các bạn ở miền bắc. họ tin rằng chúng là sinh vật linh thiêng dưới biển, là vị cứu tinh cho ngư dân và những người làm nghề đi biển nói chung. điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến của các thế hệ ngư dân ở các địa điểm nói trên.

Ở mỗi địa phương, thời gian diễn ra lễ hội truyền thống khác nhau. Tại Vũng Tàu được tổ chức vào các ngày 16, 17 và 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. tại thành phố Hồ Chí Minh, được tổ chức vào ngày 14-17 / 18 âm lịch hàng năm. Nhìn chung, dù ở thời điểm nào, tất cả các lễ hội này đều nói lên nét đặc sắc văn hóa của người dân miền biển. đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình, cầu mong cuộc sống ấm no hạnh phúc. Lễ hội cầu ngư cũng là nơi để mọi người tưởng nhớ đến tin vui, tạ ơn, uống nước nhớ nguồn.

Tiếp theo, chúng tôi đi sâu vào phân tích bữa tiệc của ngư dân. Trước hết, buổi lễ gồm có hai phần:

Xem thêm: Dao động tuần hoàn là gì? Dao động điều hòa là gì?

Đầu tiên là lễ rước kiệu, tức là rước vị nam tướng thủy quân từ thuyền rồng xuống biển. lúc đó ngư dân bám biển cùng bà con đón về khói hương nghi ngút. Bên cạnh chiếc thuyền rồng chở nước chung là hàng trăm chiếc thuyền lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ đồng hành cùng ra khơi để nghênh đón. không khí nồng nặc mùi hương và trước mắt mọi người là đủ thứ nghi lễ. Trên những chiếc thuyền lớn nhỏ này, hàng nghìn quan khách và người nhà đã tham dự lễ rước. đoàn rước trở lại bến từ đó chúng tôi xuất phát và đưa ông vào lăng thủ tướng. trên bến tàu, một đoàn múa gồm sư tử, sư tử, rồng đã chờ sẵn để đón ông vào lăng. bạn có thể cảm nhận được rằng đám rước của họ không chỉ có sự trang nghiêm của hương khói thơm, mà còn có đầy đủ các lễ vật và tiếng nhạc sôi động của màn múa lân.

Phần thứ hai là phần hy sinh. nó diễn ra sau nghi thức tế lễ truyền thống. Đây là các nghi lễ cầu an, xây dựng đại bái, hát bội diễn ra tại lăng Thủ tướng Thụy.

bên cạnh bữa tiệc, trước bữa tiệc, hàng trăm chiếc thuyền của ngư dân trang hoàng cờ hoa tươi đẹp đã neo đậu tại bến tàu. phần hội gồm nghi lễ đưa tiễn với hàng trăm chiếc thuyền lớn nhỏ và lễ vật trang trọng. Đó là môi trường chung cho tất cả các ngôi nhà trong thành phố đó, nhưng niềm vui đó không chỉ có ở thành phố, nó còn được thể hiện trong từng ngôi nhà. Ở nhà trong dịp lễ hội, ngư dân rủ nhau ăn uống, thậm chí khách phương xa đến cũng ăn uống, vui chơi và nói chuyện cùng nhau.

qua đây chúng ta có thể hiểu thêm về các lễ hội của đất nước, ngoài những lễ hội nổi tiếng của miền bắc thì bây giờ chúng ta còn bắt gặp một lễ hội cũng vui và ý nghĩa đó là lễ cầu ngư. Có thể nói, qua lễ hội, chúng ta hiểu hơn về những ước nguyện tốt đẹp của ngư dân vùng biển đầy sóng gió. đặc biệt, nó còn trở thành lễ hội truyền thống của người dân vùng biển xa.

tường thuật về lễ hội của mr. quả táo

Tết Nguyên đán là lễ hội lớn nhất trong số các lễ hội truyền thống của dân tộc Kinh cũng như hầu hết các dân tộc ở Việt Nam từ ngàn đời nay. Tết âm lịch là thời khắc giao thoa giữa năm cũ và năm mới. đây cũng là dịp để người Việt tưởng nhớ, biết về tổ tiên, cội nguồn: tình người trong quan hệ đạo lý, tình người…

ông táo (thần bếp) là người trông coi việc kinh doanh của mỗi gia đình. Theo phong tục mỗi năm, ông lên trời vào ngày 23 tháng Chạp để báo cáo mọi sự việc trên trần gian với Ngọc Hoàng. nên vào ngày này mọi gia đình Việt Nam đều làm một mâm cơm cúng tiền “ông táo”. ngày ông về chầu trời được coi là ngày đầu tiên của năm mới âm lịch. Nhà cửa, dọn dẹp đồ cúng tổ tiên, treo tranh, câu đối và cắm hoa ở những nơi sang trọng để chuẩn bị đón Tết.

Cùng với tranh dân gian, câu đối, trò cắm hoa, trò chơi hoa là những nét văn hóa tâm linh cao quý, tao nhã của người Việt trong những ngày đầu xuân. miền bắc có hoa đào, miền nam có hoa mai, đây là hai loại hoa tượng trưng cho lời chúc đầu xuân của mọi gia đình Việt. Ngoài ra, còn có những cây quất có quả màu vàng mọng, đặt trong phòng khách là biểu tượng của sự no đủ, may mắn và hạnh phúc.

Trong mâm cỗ ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên của mỗi gia đình, ngoài rau củ quả thì mâm ngũ quả là rất cần thiết. mâm ngũ quả ở miền bắc thường gồm chuối xanh, bưởi, cam (hoặc quýt), hồng, quất. miền Nam, mâm ngũ quả là hồng xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, cành sung, hoặc các loại trái cây khác. mâm ngũ quả là lộc của trời cho, tượng trưng cho quan niệm về sự no đủ, giàu sang của con người. Ngày Tết có nhiều phong tục tốt đẹp như khai bút, cầu may, chúc Tết, du xuân, mừng thọ. Mọi người đều mong một năm mới an khang, thịnh vượng, sức khỏe dồi dào và thành công hơn năm trước.

vào ngày đầu năm mới, có một phong tục để chúc mừng năm mới. Trước hết, con cái mừng tuổi cha mẹ. các ông, bà chuẩn bị ít tiền mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu bà con lối xóm. Vào ngày Tết, mọi người luôn mỉm cười, bắt tay, chào nhau, chúc nhau sức khỏe, phát tài phát lộc và thường không nói những điều mạo hiểm, ác ý.

Phong tục đêm giao thừa

Một năm bắt đầu từ đêm giao thừa và kết thúc vào đêm giao thừa, vì vậy vào thời điểm giao thoa giữa hai năm cũ và mới này, có lễ xuất hành. ý nghĩa của lễ hội này là gạt bỏ hết những điều không tốt của năm qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. lễ trừ tịch cũng là lễ “trừ ma quỷ” nên có từ “trừ tà”. Lễ diễn ra vào đêm giao thừa, chính vì vậy mà nó còn được gọi là lễ giao thừa. Người Việt thường cúng giao thừa ở đình, chùa, hoặc tại gia. bàn thờ giao thừa lắp đặt ngoài trời. người ta bố trí một lư hương, phía trên có một lư hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. lễ vật gồm: một con lợn hoặc đầu gà, bánh chưng, mứt, trầu cau, hoa quả, rượu, vàng mã. Ngày nay, trong các gia đình, người ta vẫn cúng Giao thừa với lòng thành kính như xưa, nhưng bàn thờ đơn giản hơn, thường đặt ở sân hoặc trước cửa nhà.

Theo quan niệm của người Kinh (cũng như đại đa số các dân tộc khác), tục đón giao thừa là linh thiêng. Theo phong tục của chúng tôi, hàng năm có một người đàn ông ở thành phố về xử lý việc người, cuối năm một vị thần này sẽ giao việc cho vị thần kia. vì vậy hãy hy sinh để tiễn đưa cái cũ và chào đón cái mới. Lễ giao thừa được cúng ngoài trời vì quan niệm xưa cho rằng lúc cán bộ giao việc luôn có quân ra về, đoàn quân trở về tràn ngập không khí bận rộn, gấp gáp (nhưng bằng mắt thường không nhìn thấy được. ). Ngay cả quân đội cũng không có thời gian để ăn uống. Những lúc như vậy, các gia đình lại mang xôi gà, bánh trái, hoa quả, đồ nguội ra khu vực bên ngoài để cúng, với tấm lòng thành kính tiễn biệt người trên trời đã cưu mang gia đình trong năm trước, đón người mới. nhận nhiệm vụ thống trị thế giới ngầm vào năm sau. Vì công việc giao nhận hàng rất gấp nên bạn không thể vào nhà hát mà chỉ có thể dừng lại vài giây để ăn vội hoặc mang theo, thậm chí chỉ để chứng kiến ​​tấm chân tình của gia chủ. Sau khi cúng giao thừa xong, gia chủ làm lễ cúng thổ công tức vị thần cai quản trong nhà. lễ vật cúng giao thừa. Trong năm mới âm lịch, có một số phong tục tốt vẫn tiếp tục cho đến nay:

đi lễ chùa, long đình, miếu mạo: sau lễ giao thừa ở nhà, mọi người đều đến các đình, chùa, miếu, am để cầu may, cầu may, cầu phật, thần linh phù hộ. và bảo vệ người dân, gia đình và bạn bè. Vào dịp này, mọi người thường xin thiệp mừng năm mới.

chọn xuất hành: khi đi lễ, người ta kén chọn giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng kịp thời để gặp may mắn cả năm.

hái lộc: khi đi lễ hội, chùa, đền, miếu, người ta có tục hái trước cổng đình, chùa một nhánh gọi là lộc, có nghĩa là “lấy lộc” từ trời đất, thần linh. và các vị phật. , nhượng bộ. cành này được mang về trồng trước bàn thờ cho đến khi khô héo.

Hương lộc: Nhiều người thay vì hái lộc, xin lộc ở đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng trước bàn thờ, rồi đem cây lương đó cắm trên bàn. để thờ cúng tại nhà. lửa tượng trưng cho sự thịnh vượng, được lấy từ nơi thờ cúng, tức là cầu xin thần phật, thánh hiền phù hộ để làm ăn phát đạt cả năm.

Họ xông nhà: thường người ta chọn một người “dễ tính” trong gia đình về ra mắt trước khi chết, sau khi làm lễ giỗ họ xin thắp hương hoặc hái hành ở chùa mang về. Khi trở về là năm mới, người này sẽ “xông nhà” cho gia đình, mang đến những điều tốt lành cho gia đình trong cả năm. nếu không có người “dễ dãi” thì nhờ người khác có đức tính tốt đến sớm trước ngày khách đến chúc tết, như vậy người đó sẽ mang lại may mắn, hạnh phúc cả năm. tròn.

câu chuyện về lễ hội bơi lội

bạch hạc, việt tri thuộc tỉnh phú thọ, một vùng quê với sông nước mênh mông và đồng lúa. đây còn là vùng quê có lễ hội bơi chải kéo dài trong hai tháng 5 và 6 âm lịch hàng năm, được gọi là “lễ hội bơi chải”.

Bơi lội gắn liền với lễ hội làng, tế thần linh để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, an cư lạc nghiệp. người đào thờ ly bon sai, thổ công, hạc còn thờ tam giang đại vương, là vị thủy thần nơi ngã ba sông. trong khi những người khác thờ dang dao song nga và đức thanh tân viên, chú hồ thờ bát công chúa, đạo sơn thờ rồng rắn đại vường và ut soi đại vường.

duy nhất xã đạo xã tổ chức tắm đêm:

“Mùng 9 có tiệc anh ơi, mùng 10 hè tụi em xuống tắm biển cúng thần. khi người phục vụ vào kiệu, kiệu vào, trống ra, cờ vẫy, cờ vẫy … “

(bài hát nổi tiếng)

Các thị trấn khác thi bơi vào ban ngày. thuyền đua rất dài, mỏng, chia làm 24 khoang, có 48 mái chèo (24 × 2), một người cầm lái ngồi ở đuôi thuyền, một người cầm lái ở giữa thuyền lắc hạt điều và đánh trống. những người chèo là nam thanh niên (độc thân), rất lực lưỡng, cường tráng. trong hồ bơi có năm chiếc thuyền của con trai thi đấu với năm chiếc thuyền của con gái, thật là vui.

có một bài hát nói về câu lạc bộ bơi lội trong khu vực:

“rau câu, sếu bơi, sếu, me bơi, me lo, chú đức bơi, chú dực chăm, bơi dáng …”

Lễ hội bơi lội ở thị trấn này vừa tan rã, thì lễ hội bơi lội ở thị trấn khác đã mở cờ và vẫy tay chào. mùa lễ hội dân gian vui vẻ trôi qua.

ở phú thọ, lễ hội bơi sếu và chim mộng là phổ biến nhất, hàng năm có hàng nghìn lượt người gần xa đến tham dự lễ hội.

sau khi rau đến lễ hội thả sếu diễn ra vào ngày 20 tháng 5 âm lịch. hạc có bốn giàn, mỗi cạnh có màu cờ, màu áo: màu cờ, màu mái chèo, mũ, trang phục của người chèo phải cùng màu theo quy định: hạc xanh, trúc đỏ, tán đồng nam trắng và sải đầu vàng.

Vào buổi sáng ngày lễ tế, nam thanh nữ tú, nhất là thôn nữ mặc quần áo đẹp ra vào bờ tấp nập, tiếng chiêng, tiếng trống vang dội khắp buôn làng. khi các tay chèo đã vào chỗ ngồi, mái chèo đã sẵn sàng, các đường ngang đều sạch sẽ, khi một hồi trống rung lên thì cuộc thi bắt đầu. trống kết thúc trận liên hồi. hàng ngàn người reo hò. hai tay dang ra uốn cong để chống mái chèo xuống nước, cánh tay gấp gáp, miệng hét lên: “Ê, boo!” những chiếc tàu lượn băng, giống như những mũi tên lướt về phía trước. Những đoàn xe xuất phát từ bến cẩu qua bến đò đến cầu bà tiên cát về Việt Trì, về bến đậu trước bến cẩu giữa tiếng trống, tiếng hò reo rộn rã. đôi mắt của các cô gái sáng rực rỡ.

Lễ hội bơi chải diễn ra sau đó ba ngày, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 5 âm lịch. the me co 3 con giáp: phu yen, bo nguoi va hac dinh. mỗi trấn có một chiếc thuyền rồng bằng gỗ, hai đầu sơn đỏ, giữa sơn đen. mỗi thuyền chỉ có 40 người, 38 tay chèo, 1 tay lái, 1 người chở cờ. ngày 24 hè họ trải dài trên sông phố ngày, sáng ngày 25 họ đi từ đình làng đến làng điểm xuân, chiều ngày 26 họ bơi ra toàn bộ bến đò làng nghia của. yên, sáng ngày 27 họ đi lễ đình làng. Chiều ngày 26, phần thi bơi “cướp cờ” diễn ra sôi nổi và hấp dẫn nhất. chiều ngày 27, chúng tôi bơi ra khu vực ngã tư để “tiễn biệt các thánh”.

Lễ hội bơi trải ở vùng bach hạc và việt trì đã có từ hàng nghìn năm trước. một lễ hội dân gian đậm đà sắc màu văn hóa – văn minh sông đỏ, nơi khai sinh ra văn minh lac – việt.

tường thuật về lễ giỗ Tổ Hùng Vương

dù ai đến rồi đi, hãy nhớ đến ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Những người con Việt Nam dù đi đâu về đâu cũng luôn nhớ về những giá trị văn hóa của dân tộc, nhớ về những lễ hội tôn vinh công lao dựng nước của mười tám vị vua anh hùng, những người đã có công dựng nước đầu tiên. Việt Nam . Chính vì vậy hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, cả nước lại trẩy hội đền Hùng Phú Thọ. đây là nơi thờ các vị vua hùng mạnh và là nơi tổ chức các lễ hội vào những ngày này. Theo quy định của nhà nước, các năm chẵn sẽ được tổ chức theo nghi thức cấp quốc gia, các năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ tiến hành. nhưng dù là năm nào thì những ngày này ai cũng muốn về đây để tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên. đây là một trong những lễ hội lớn nhất ở nước ta.

Lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Đền thờ các anh hùng liệt sỹ tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc thị trấn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây thể hiện sâu sắc các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của đồng bào. Lễ hội cũng được bắt đầu từ thời vua Hùng Vương trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Cũng chính vì lẽ đó mà việc chúng ta duy trì và tổ chức lễ hội này với quy mô lớn trong nhiều năm qua cho thấy tấm lòng của dân tộc, của các thế hệ sau vẫn luôn ghi nhớ với niềm vui, biết ơn sâu sắc công ơn cha mẹ của mình. đã hy sinh. để bảo vệ đất nước.

Qua đây, chúng ta cũng nhận thấy sâu sắc tinh thần yêu nước của dân tộc ta. Vào những dịp như thế này, chúng ta không thể quên lễ hội rước kiệu. đây là một trong những việc làm thể hiện sự trang trọng và thành kính đối với những người đã khuất. không khí buổi lễ rất nghiêm túc, không có những hành động cười đùa, nghịch ngợm. người ta sẽ nâng kiệu đi ngang các đền chùa trên núi hung. Trong đó có các lễ vật như xôi, gà và bánh chưng. tất cả đều là lễ vật truyền thống của dân tộc ta. tất cả mọi thứ sẽ được đặt hàng và sắp xếp đẹp mắt trong năm cung điện. Lễ rước thường được tiến hành rất trang nghiêm và cẩn thận. Thông thường, những người có sức khỏe tốt, ngoại hình đẹp mới được cộng đồng lựa chọn. mọi người đều mặc đồng phục chỉnh tề, sạch sẽ. mỗi người trong số họ mang theo những vũ khí cổ bằng gỗ như dao, chùy, cờ và rồng để mô phỏng ngày xưa. Đoàn rước đi đến đâu, tiếng chiêng, tiếng trống như nổi lên. sau đó, các đoàn sẽ xếp hàng để đi sau kiệu và cùng nhau theo kiệu lên đỉnh. điểm dừng đầu tiên là “kính thiên văn”. Ngay lúc đó, cả đoàn dừng lại và làm lễ dâng hương. toàn bộ bầu không khí có vẻ hấp dẫn và trang nghiêm. mọi người đều chăm chú làm theo quy trình dâng hương các vị thần linh. sau đó, mọi người đi vào điện thượng điện. Đây là ngôi chùa cao nhất và là ngôi chùa chính trong số những ngôi chùa ở đây. Do đó, ở nơi này thường sẽ có một vị lãnh đạo đại diện cho nhân dân cả nước tạ ơn những gì tổ tiên đã để lại, sau đó hứa sẽ cố gắng nhiều hơn nữa trong những năm tới, cầu cho sự thịnh vượng và kinh tế. phát triển đất nước. thường thì lễ này sẽ được báo chí, truyền thông xem và tái hiện trực tiếp để người dân cả nước cùng xem. Tất cả mọi người lúc này đây, ai cũng đang thầm cầu nguyện từ trái tim của mình, mong nhận được sự phù hộ bình an của tất cả các vị thần cho con cháu của họ.

sau sự hy sinh của các vị vua anh hùng là lễ hội. đây cũng là phần mà mọi người rất yêu thích, đặc biệt là đối với những người thuộc thế hệ trẻ. lễ khai mạc hàng năm hầu như luôn là cuộc thi rước kiệu từ các thị trấn xung quanh. sự tham gia nhiệt tình càng làm cho không khí của mùa lễ hội dâng cao hơn rất nhiều. vì mọi người sẽ xem xét và phán đoán chiếc kiệu của làng nào là đẹp nhất, năm sau, kiệu của làng đó may mắn sẽ được các làng còn lại rước lên đền thượng làm lễ. Thị trấn đoạt giải nhất là một vinh dự lớn vì theo phong tục, thị trấn nào có kiệu được chọn trong năm làm ăn sẽ gặp nhiều may mắn, được thần linh phù hộ. . qua đó thấy rõ nét đặc sắc trong đời sống tinh thần của các dân tộc quanh chân núi hùng nói riêng và của toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung.

Trong lễ hội, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp nghi lễ hát xoan. Đây là một nghi lễ độc đáo mà chỉ nơi đây mới có bởi theo lời kể, đây là điệu múa hát được phu nhân Lan Xuân, vợ vua Lý Thần Tông yêu thích và có nhiều đóng góp cho bài hát. bài hát này đã trở thành bài hát được thờ cúng trong các đền thờ của vị vua anh hùng. Không chỉ có hát xoan mà còn có ca trù ở chùa hà. đây cũng là loại hình hát truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta. Bên ngoài sân, mọi người tập trung để chơi một số trò chơi phổ biến như đu quay, cờ vua, chọi gà và đấu vật. Với nhiều trò chơi khác nhau, những người đến thăm bang hội có thể thưởng thức bất kỳ loại nào họ muốn. Ví dụ, các bạn trẻ thường chọn đu trên những chiếc xích đu làm bằng tre, chịu lực rất tốt. về đêm, những người yêu hát có thể cùng nhau hòa mình vào những làn điệu đối đáp, hát giao duyên, hát chèo ngay trong sân đình, giếng trời. Với rất nhiều hoạt động bổ ích, hàng năm lượng khách đến với đền thờ anh hùng vô cùng đông đảo. ai cũng muốn một lần đến nơi thờ cúng tổ tiên của đất nước để tỏ lòng thành kính.

Lễ hội đền hùng là một phong tục rất đẹp trong đời sống tâm linh của dân tộc. Chúng có giá trị lịch sử và văn hóa to lớn đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, từ lâu, Phú Thọ được coi là thánh địa của cả nước, là cái nôi của dân tộc. Trải qua một thời gian dài với bao thăng trầm của lịch sử, nhà nước vẫn đang cố gắng tổ chức lễ hội đền hùng để tưởng nhớ đến các vị vua có công lập nước. những người hành hương đến nơi đây đều mang theo tất cả lòng thành kính, mong muốn gửi gắm tấm lòng thành kính của mình đến tổ tiên. điều đó càng làm chúng ta tự hào về cội nguồn con rồng cháu tiên của dân tộc Việt Nam chúng ta.

tường thuật lễ hội đua thuyền

Quê hương nơi tôi sống có rất nhiều lễ hội, mỗi lễ hội có một nét đặc trưng riêng mà tôi cảm nhận được. mùa lễ hội thường diễn ra vào tháng Giêng và tháng Hai trong năm. Bà nói với tôi rằng tháng Giêng là tháng vui, vào tháng Giêng lễ hội của các vua hùng kết thúc, sau đó người nông dân ra đồng trồng lúa. Nhiều lễ hội như thế diễn ra và nhiều trò chơi mở ra gây náo nhiệt, nhưng vui nhất là lễ hội đua thuyền.

Lễ hội đua thuyền quê tôi được tổ chức vào hội làng từ khi tôi còn nhỏ, bà tôi đã đưa tôi đi xem lễ hội đó. đó là lễ hội lớn nhất sau Tết Nguyên đán ở quê tôi. vì đó là lễ hội của làng, không phải là lễ hội cấp quốc gia. Lý do tại sao tôi thích xem đua thuyền không phải vì tôi thích môn thể thao này, mà vì anh trai tôi cũng tham gia đua thuyền. trong làng chia thành các đội mỗi đội một thuyền. Đội chiến thắng không chỉ nhận được giấy khen của trưởng thôn mà còn khiến cả xóm tự hào. Đó là vì niềm tự hào và sự ganh đua cao thấp giữa các đội mà tôi thực sự thích. tết đến, mọi người ăn uống chúc tụng nhau say sưa đến trưa, hai giờ chiều mọi người tập trung đông đủ ở đình làng. dưới long đình có một cái ao làng rất rộng, những chiếc thuyền rồng chầu chực sẵn sàng đợi những đứa trẻ ở đó. trai làng tôi ngoại hình này nọ tuy khỏe nhưng có một anh ở đội 1 thân hình to béo lại từng tập tạ, thể hình nên là đối thủ đáng gờm của đội xóm tôi. .

Bắt đầu vào khoảng hai giờ rưỡi khi mọi người đã có mặt đầy đủ ngoài hiên của đình làng, báo hiệu cuộc đua bắt đầu. dân làng đổ về xem náo nhiệt. những đứa trẻ nhỏ hơn tôi được cha hoặc anh cho phép đội lên đầu để xem cuộc đua thuyền. các cô gái

các chị cười đùa với nhau, có chị còn thương nhớ ở trên thuyền, vừa cười vừa mắng anh thử xem. mọi người đều hào hứng cho cuộc thi bắt đầu. Nhiều người lớn tuổi vẫn đi xem chưa vui nhưng đây là truyền thống của dân làng, đi được bao lâu thì không bỏ được những truyền thống tốt đẹp đó. dân làng ưu tiên cho họ có được chỗ ngồi tử tế để xem. tích cực nhất là các bạn trẻ trèo tường, đứng xem và hò hét.

Trước sự phấn khích của mọi người, cuộc đua đã bắt đầu. trưởng làng là người cai trị trong cuộc đua đó. ông cầm trong tay một chiếc còi, một chiếc còi thổi, những người thanh niên vững vàng chèo chống chiếc thuyền buồm đang lướt nhanh trên mặt nước. những cánh tay lái sắc lẹm như đang rẽ sóng để băng về đích nhanh nhất có thể. trong sự khẩn trương và gấp gáp đó có những tiếng kêu vang vọng khắp bầu trời. ồ, tôi rất vui khi thấy dân làng mình vui vẻ bên nhau như thế này. những tiếng kêu “phấn đấu” vang lên như những tiếng hô vang dội để vực dậy tinh thần của các vận động viên. hôm đó, tôi cũng hét đến cháy cả cổ họng. kết quả là đội của anh trai chiến thắng, chiến thắng đó kết thúc cuộc đua năm đó, có những tiếng reo hò vui sướng của đồng đội, và cũng có những tiếng than thở “trời ơi !!!.

Dù sao, tôi cảm thấy rất vui về lễ hội đua thuyền ở quê hương mình. Nó như một sợi dây vô hình thắt chặt tình đoàn kết của người dân thị trấn.

Xem thêm: Top 6 bài văn phân tích bài ca dao &quotCưới nàng anh toan dẫn voi…&quot lớp 10 mới nhất – Top hay nhất

                       

Vậy là đến đây bài viết về TOP 14 bài Thuyết minh về lễ hội ở địa phương em – Văn 10 đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Back to top button