Những tác phẩm văn học lãng mạn lớp 11

Tác phẩm văn học lãng mạn lớp 11

phần giới thiệu

1. lý do chọn chủ đề

Chủ nghĩa lãng mạn là hiện tượng văn học quan trọng nhất của thế kỷ 20 ở phương Tây, đồng thời cũng là một trào lưu quan trọng trong văn học Việt Nam 1932-1945, có ý nghĩa tích cực trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam. văn học phát triển theo hướng hiện đại. do đó, bằng cách tìm hiểu những đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn trong một số truyện ngắn lớp 11, chúng ta đã có được chìa khóa để mở ra thế giới muôn màu của con người và văn học Việt Nam. Đặc biệt, với chủ đề này, người viết sẽ có cơ hội so sánh văn học lãng mạn Việt Nam và phương Tây để thấm thía bản sắc riêng của văn học mỗi dân tộc.

Qua thực tế giảng dạy môn ngữ văn ở trường THCS, chúng tôi thấy một nhược điểm chung là học sinh chỉ nắm được từng tác phẩm cụ thể, chưa có kiến ​​thức lý luận tổng quan, khái quát về đề tài, đặc điểm của thể loại, đặc điểm của trào lưu. , phương pháp sáng tác, vì vậy bằng cách tìm hiểu về đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn, giáo viên sẽ giúp học sinh có được hướng dẫn đọc và hiểu tất cả các tác phẩm lãng mạn một cách khoa học.

2. lịch sử vấn đề

Đã có nhiều công trình lý luận, phê bình văn học bàn về đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn, như: lý luận văn học (chủ biên, NXB giáo dục, hn. 2002), văn học phương tây (thơ dang dở). anh đào và các tác giả khác, nhà xuất bản giáo dục, h.2002), văn học việt nam 1900 1945 (phan cu de và các tác giả khác, nhà xuất bản giáo dục, h.2003), thi nhân việt nam (hoai thanh hoai). pie, xã luận văn học, h.1999), đây là những tài liệu quý, những gợi ý trực tiếp để thực hiện đề tài này.

3. phạm vi của vấn đề

chủ nghĩa lãng mạn phát triển mạnh mẽ nhất trong văn học chính thống châu Âu (m.gorky). do đó, đề cập đến vấn đề này, chúng tôi chỉ trực tiếp khảo sát các tác phẩm văn học lãng mạn Pháp, mà chủ đạo chính là v. huy-go; Các tác phẩm văn học lãng mạn Việt Nam, tập trung vào thơ mới (đặc biệt là thơ của các tác giả được học trong chương trình như: xuân sắc, huy cận, đại cương, tâm huyết, nguyễn bình, v.v.) và văn xuôi lãng mạn (điển hình là tha hương, nguyễn tuấn)

4. mục đích nghiên cứu

là giáo viên dạy văn cấp 3, anh tìm hiểu những đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, đó cũng là cách để người viết tự học hỏi, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Hơn nữa, chúng tôi mong rằng thông qua chuyên đề này sẽ giúp các bạn học sinh tìm ra phương pháp hữu hiệu để khám phá thế giới nghệ thuật phong phú trong các tác phẩm văn học lãng mạn đặc sắc. đồng thời, đây cũng là cơ hội để người viết trao đổi với các đồng nghiệp về phương pháp sáng tác của một tác phẩm văn học chính luận.

5. phương pháp nghiên cứu

phân tích cú pháp nhận xét

thống kê danh mục

so sánh

6. cấu trúc chuyên đề.

phần mở đầu

nội dung

– chương 1: tổng quan về văn học lãng mạn

– chương 2: các nguyên tắc thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn

– chương 3: chủ nghĩa lãng mạn đặc trưng qua hai tác phẩm Chữ người tử tội Nguyên tuấn và Hai người con trai của thach lam.

– chương 4: hướng dẫn học sinh tìm hiểu để thấy được sự khác biệt giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực.

nội dung

chương 1: tổng quan về văn học lãng mạn

Đây là một trong những trào lưu văn hóa lớn nhất ở châu Âu và châu Mỹ cuối thế kỷ 16, nửa đầu thế kỷ 20, có ảnh hưởng và ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của văn học thế giới.

1. cơ sở đào tạo

1.1. cơ sở xã hội

Thời đại của Chủ nghĩa lãng mạn đặc biệt náo động (chỉ riêng nước Pháp, một trung tâm lớn của văn học châu Âu, đã trải qua 25 năm cách mạng liên tiếp và các cuộc chiến liên tiếp vào đầu thế kỷ). cuộc đại cách mạng tư sản năm 1789. sự sụp đổ của chế độ phong kiến ​​và sự hình thành các quan hệ xã hội mới đã tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp xã hội. Một mặt, cách mạng tư sản khơi dậy sự bất mãn của những người đại diện cho hệ tư tưởng quý tộc, bất bình với trật tự xã hội mới, lo sợ phong trào quần chúng, hoang mang về tương lai, hoang mang, hoài niệm về một thời huy hoàng đã không còn nữa. tâm lý thời đó đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn, khi chủ nghĩa lãng mạn không phù hợp với thực tế, nó khao khát đạt được một xã hội lý tưởng trong mơ.

tóm lại: sự sụp đổ của hệ thống phong kiến, sự thắng lợi của các quan hệ xã hội tư sản và sự bất mãn của nhiều giai cấp, tầng lớp đối với trật tự xã hội mới là tiền đề lịch sử của trật tự xã hội mới của nền văn học lãng mạn châu Âu. fago, một nhà nghiên cứu văn học Pháp đã viết rằng: cơ sở của chủ nghĩa lãng mạn là sự chán ghét thực tại và khao khát mãnh liệt thoát khỏi thực tế đó.

1.2. cơ sở của ý thức

Chủ nghĩa lãng mạn cũng ra đời dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, mơ ước mang lại tương lai hạnh phúc, tốt đẹp cho con người. tài sản chung của tất cả các dân tộc (tuyên ngôn của đảng cộng sản). thực sự, chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức tự nó đã là một trào lưu lãng mạn trong triết học. Đặc biệt, chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phần đã nâng tinh thần con người lên vị trí thống trị sự sáng tạo thế giới, nhấn mạnh thiên tài, linh cảm và tính năng động chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hegel khẳng định rằng con người là tuyệt đối vô hạn, là đỉnh cao của sự phát triển của thế giới tinh thần. Những quan điểm triết học và mỹ học đặt nặng tính cá nhân này phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội tư sản hiện đại. mặt tích cực của nó là nâng cao sự thánh thiện, khẳng định ý thức tự chủ ở con người. tuy nhiên, triết học và mỹ học duy tâm cổ điển Đức lại đề cao con người bên ngoài hiện thực lịch sử và xã hội. những ý tưởng triết học này đã có một số ảnh hưởng đến các nhà văn lãng mạn cả tích cực và tiêu cực. Trong bối cảnh đó, nhiều trào lưu và trào lưu nghệ thuật đã nảy sinh, bao gồm cả chủ nghĩa lãng mạn, trong các lĩnh vực văn học, hội họa và âm nhạc.

2. chủ nghĩa khái niệm: chủ nghĩa lãng mạn trong văn học

từ lãng mạn (romanceismo, romantisme) xuất phát từ các bản tình ca thời trung cổ (lãng mạn), để chỉ những bài thơ dài về các hiệp sĩ, anh hùng, vùng đất xa xôi và tình yêu đã mất của người dân. Biélinski trong văn học Nga, 1841, định nghĩa: chủ nghĩa lãng mạn, là thế giới nội tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái tim.

Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện vào cuối thế kỷ 18, ban đầu có nghĩa là những thứ không có thật, chỉ tồn tại trong sách vở, trong trí tưởng tượng. Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa lãng mạn không dừng lại ở đó, mà đã trở thành thế giới quan của thời đại: một cách nhìn, cách đánh giá và định giá thế giới. đó là một phản ứng tích cực chống lại sự thống trị của tư sản. chủ nghĩa lãng mạn là tiếng nói của những người có văn hóa, có lương tri, của trí thức tiến bộ. họ căm thù sự thống trị của tư sản, vì giai cấp tư sản đã biến những lời hứa hẹn tốt đẹp của các triết gia thành những bức tranh châm biếm, biến xã hội trong mơ thành hiện thực đau thương và đẫm máu.

chủ nghĩa lãng mạn như một sự tiếp nối của chủ nghĩa tình cảm. đặc biệt là sự hòa đồng, thể hiện tình yêu thương con người một cách hào hiệp. chính vì vậy mà các nhà văn lãng mạn đã tỏ rõ thái độ chống lại hiện thực tư sản, tạo dựng xã hội mới, tìm lối thoát cho nhân loại: quay ngược về quá khứ, với hào quang của xã hội nguyên thủy, với những chiến binh của xã hội phong kiến; hoặc đến một tương lai mới, trong đó không có giai cấp tư sản. tuy nhiên, cả hai đầu ra đều không có thật. chủ nghĩa lãng mạn đã trở thành thế giới quan của người châu Âu, mang hơi thở sức sống, tạo nên sức mạnh cho nhân loại.

chương 2: các nguyên tắc thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn

1. đánh giá cao cảm xúc của từng người

Xem thêm: Sống chết mặc bay – nội dung, dàn ý, tóm tắt, bố cục, tác giả | Ngữ văn lớp 7

Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm, tâm điểm là con người (nguyễn minh châu). văn học là hình thái ý thức xã hội luôn phản ánh tồn tại xã hội mà trung tâm là hình tượng con người. con người trong xã hội tư bản bị áp bức, bóc lột về mọi mặt, họ chìm trong đau khổ, không tìm được con đường sống. do đó, họ trốn chạy khỏi thực tại, họ chui sâu vào tâm hồn, vào cái tôi của mình, tìm cái tôi của chính mình, và sống với thế giới tâm linh của riêng mình. con người đã khám phá ra rằng thế giới tâm linh của họ phong phú và đa dạng như một loại nhạc cụ, và đã thể hiện nó một cách đầy ám ảnh và xúc động trên giấy. nếu chủ nghĩa hiện thực phản ánh cuộc sống một cách khách quan thì chủ nghĩa lãng mạn phản ánh cuộc sống một cách chủ quan thông qua tâm tư, tình cảm của người nghệ sĩ. lamactin lãng mạn người Pháp đầu tiên nói: Tôi là người đầu tiên làm thơ từ monte pacnatxo. Tôi không tặng nàng thơ một cây đàn lia bảy dây thông thường mà là những sợi tơ của trái tim đang thổn thức. đó là cơ sở cho sự phát triển của một thể loại độc đáo trong văn học, đó là thơ, đặc biệt là thơ trữ tình.

Nếu chủ nghĩa cổ điển nhấn mạnh cái tôi lỗi thời thì chủ nghĩa lãng mạn lại nhấn mạnh cái tôi cá nhân. mọi người có cơ hội thể hiện vẻ đẹp của chính mình. nó là một dạng phẩm giá của con người. nhưng cái tôi ở đây không phải là cái riêng của một người, mà là tiếng nói của cả một thời đại. cái tôi có phẩm chất mới, cái tôi của cộng đồng và tập thể. vì vậy, tiếng nói của trái tim mới đến được trái tim và văn học lãng mạn đã trở thành món ăn tinh thần của cả thời đại. v. hugo nói: ôi, người đàn ông ngốc nghếch. Bạn không biết tôi đang nói về bản thân mình, tôi đang nói về bạn.

trong văn xuôi lãng mạn, chúng ta cũng thấy nguồn cảm hứng để lại trong những trang viết của Nguyễn tuấn về chủ đề dời. Trước cuộc cách mạng tháng Tám, cái tôi nguyenobecer về cơ bản là cái tôi cá nhân chủ nghĩa đối lập với xã hội, thể hiện sự tù túng của một chàng trai trẻ đầy sức sống, đầy khát khao khẳng định mình, nhưng vẫn bị bao vây bởi không khí trì trệ, tẻ nhạt của cuộc sống. xã hội thuộc địa nửa phong kiến. ảnh hưởng tư tưởng của nits, gents ở phương tây, gypsy, di chuyển với anh ta đôi khi chỉ để tìm thấy chính mình, để nhận ra cá nhân của mình đến cùng: thế thì tôi vẫn bước đi trong cuộc sống như một hành khách không có quê hương xác định, tất cả chỉ là nghi ngờ, mà thôi. niềm tin vào kho, vốn tình cảm và tình cảm của mình. nhưng bản ngã vẫn chưa hoàn toàn khép kín với cuộc sống. ta thấy bóng anh hiện thân trong nhân vật áo trắng thiếu quê hương. với bach đôi khi đi là lẽ sống, tìm được thực đơn mới cho tâm hồn, đi là hạnh phúc. nhưng đôi khi anh lại tự mâu thuẫn với chính mình: đi thì khổ bao nhiêu thì nghỉ bấy nhiêu, ôi tôi ơi. ảnh hưởng của thuyết siêu nhân của nissan: làm siêu nhân là phải biết nhẫn tâm, biết vượt lên trên luân thường đạo lý, biết nói trọng tình nghĩa gia đình, đối với những người đang trên con đường oán hận, sa ngã. những lời tạm biệt, những giọt nước mắt rơi. nhưng thực tế anh ấy vẫn rất hết lòng vì gia đình. với cha thì phải thú nhận: tình cha vốn chẳng nặng nề. Về phần vợ, anh cố gắng bóc mẽ mọi khuyết điểm của cô ấy để có thể ly hôn, nhưng rồi anh nhận ra rằng điều đó thật chẳng đáng chút nào với sự trong sáng và lương thiện của vợ. do đó, khác với các nhân vật trong văn học phương tây, họ sẵn sàng rời bỏ gia đình để sống một cuộc đời phiêu lưu, mạo hiểm, để khẳng định cái tôi của mình. Nhân vật của Nguyễn Tuân vẫn mang trong mình tình cảm của người Việt Nam, rời xa gia đình nhưng vẫn nặng lòng với những người thân yêu. trân trọng hơn, họ xúc động, xen lẫn lãng mạn bâng khuâng, nhưng trong lòng họ vẫn yêu mến, ngợi ca đất nước muôn màu, ghi lại những cảnh đẹp của đất nước. , mỗi bước chân tôi đặt hết tâm hồn vào cỏ cây, sông nước nhân vật Nguyễn tuấn chính là bóng dáng của nhà văn. con người luôn cảm thấy thiếu vắng quê hương đó, họ thực sự gắn bó với quê hương với biết bao sợi dây tình cảm mỏng manh. nhưng chính vì tình yêu quê hương mà tôi cảm thấy bơ vơ trong cảnh nước mất nhà tan và có một tâm trạng day dứt, khao khát không có quê hương. đó là một tấm lòng hoàn toàn chắc chắn (nguyen dang mạnh mẽ). sức hấp dẫn, giá trị vĩnh hằng của những trang nguyễn tuân là ở đó.

Qua việc phân tích một số ví dụ trên đã cho chúng ta thêm cơ sở để hiểu sâu hơn đặc điểm đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn, đó là bênh vực tình cảm của cá nhân, hiểu con người là một mô hình thu nhỏ với vô số tâm hồn và trí óc không giới hạn.

2. nhân vật trung tâm

nhân vật

là hình ảnh của một người được miêu tả cụ thể trong tác phẩm. nhân vật luôn là phương tiện để nhà văn phản ánh hiện thực và gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình. mỗi phương pháp sáng tác có kiểu ký tự riêng. nếu chủ nghĩa hiện thực phê phán xây dựng những nhân vật điển hình gọn gàng thì những nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn lại mang một vẻ đẹp khác thường và độc đáo.

2.1. kiểu nhân vật cô đơn

Kiểu nhân vật tiêu biểu của văn học lãng mạn ra đời từ cuộc đấu tranh giữa cá nhân và xã hội. đó là những người dân bất mãn với hiện thực thối nát của xã hội tư sản. họ không chấp nhận và từ chối xã hội. ngược lại, xã hội cũng từ chối những người như vậy. mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội là mâu thuẫn không thể hòa tan. nhưng họ là những người cô đơn chiến đấu, những con người cô đơn, trong cuộc chiến đó phần thắng không thuộc về cá nhân. nhưng những anh hùng cô đơn ấy vẫn quyết tâm không từ bỏ lý tưởng của mình. vì vậy họ thường có khuôn mặt buồn, không hay cười. Điển hình của kiểu nhân vật này là angonrax trong tiểu thuyết les misrables de v. Hugo. vẻ đẹp của nàng đã được nhà văn lí tưởng hoá rất cao. Theo quan điểm của Hugo, Angola là biểu tượng hoàn hảo của cái cao cả, của lí tưởng cách mạng. và để chứng minh điều đó, nhà văn đã thể hiện nhân vật với những nét đặc sắc, tuyệt đối: đao phủ, thánh nhân, ánh sáng, pha lê và tảng đá cứng. Anh có vẻ đẹp trẻ trung và thần thái, anh là người anh hùng lý tưởng nhưng anh luôn mang dáng vẻ uy nghiêm và u buồn của những anh hùng cô đơn, anh khao khát chiến đấu với xã hội tư sản tàn ác để mang lại niềm an ủi cho những người nghèo khổ. angonrax là người cuối cùng chết tại chướng ngại vật với tám phát súng. Chi tiết này khiến chúng ta liên tưởng đến hình ảnh Chúa bị đóng đinh trên thập giá để chuộc tội trần gian. Angola là biểu tượng của một dân tộc sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của tất cả mọi người.

điều đặc biệt, những nhân vật này vẫn hiên ngang và đầy kiêu hãnh, họ toát lên vẻ đẹp kiêu kỳ. nhân vật lãng mạn gắn liền với từ khôn ngoan:

2.2. kiểu nhân vật anh hùng ăn cắp từ một nhân vật nổi loạn

Trong các tác phẩm văn học lãng mạn, cũng có một loại tướng trộm tính tình phản nghịch, nhưng lại là một tên trộm cao cả, duy tâm: hành động cứu người, cứu người. đó là những người đầu thai vào thế kỷ sai lầm.

Xem Thêm : Nhà văn Đoàn Giỏi: Tiểu sử, sự nghiệp và những tác phẩm nổi tiếng

các nhà văn lãng mạn tích cực bất mãn sâu sắc với xã hội tư sản. họ nhận thức rõ ràng rằng xã hội mới nên cho phép mỗi người thể hiện tài năng của mình và tham gia vào sự thay đổi thế giới, trên thực tế, là một xã hội đã bị xáo trộn bởi sự tàn bạo của con người. Đối với tiền bạc, sự tàn bạo này còn khắc nghiệt hơn sự tàn bạo. của giai cấp và chủng tộc trong quá khứ. rằng nhận thức sáng suốt về thực tại không tiêu diệt được ý chí của nhân vật trung tâm trong chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Gắn liền với mong muốn của mọi người về một xã hội tốt đẹp hơn, hầu hết các tác phẩm lãng mạn tích cực đã thể hiện trong công việc của họ ước mơ về những hành động thực tế của cá nhân, nơi các cá nhân có thể có mặt, bước vào thế giới và thay đổi nó. Nhân vật của ông thường là những nhân vật phi thường, những con người nổi loạn, họ nổi loạn để tạo lập lập trường cho riêng mình, họ nổi loạn để khiến thế giới chú ý đến mình, họ nổi dậy để chống lại bất công, tiêu diệt cái ác, dù chỉ một mình. những người này thường sống ngoài vòng pháp luật, họ sống ngoài xã hội, vì vậy khi họ buồn, họ lại càng như vậy.

3. mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh

Nếu các nhà văn hiện thực phê phán miêu tả hiện thực cuộc sống thông qua các nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình thì các nhà văn lãng mạn lại truyền tải triết lý sống của mình thông qua những tính cách phi thường trong những hoàn cảnh phi thường. v.huygo, nhà lãnh đạo của chủ nghĩa lãng mạn Pháp, nói rằng sự tầm thường là cái chết của nghệ thuật. và đây cũng là nguyên tắc chung của các nhà văn lãng mạn, luôn chuộng cái vĩ đại, cái phi thường, cái quá khổ. dưới ngòi bút của ông, các nhân vật trung tâm trở nên phi thường, hào hùng, gắn với những hoàn cảnh phi thường

4. nghệ thuật tương phản

theo các nhà phê bình, nghệ thuật lãng mạn có khả năng chịu đựng rộng rãi đối với các thiết bị nghệ thuật cụ thể như sự tương phản, cường điệu, giai thoại trữ tình, sự đối lập giữa cái cao siêu (siêu phàm) và cái thô thiển (kỳ cục), trong đó, một trong những phương pháp mang lại Hiệu quả nghệ thuật lớn nhất đối với các tác phẩm văn học lãng mạn là nghệ thuật tương phản ở nhiều cấp độ. chủ nghĩa lãng mạn là sự liên tục của các yếu tố đối lập: thiên nhiên và nghệ thuật, thơ và văn xuôi, nghiêm túc và thích thú, trí nhớ và linh cảm, tư tưởng trừu tượng và cảm giác sống động. , sự sống và cái chết gắn bó mật thiết với nhau trong thể loại lãng mạn (a.w sligel).

4.1. tương phản trong cách xây dựng nhân vật

4.1.1. tương phản trong một ký tự

Dưới ngòi bút của các nhà văn ngôn tình, các nhân vật thường là sự thống nhất hài hòa của nhiều mặt đối lập: giữa ngoại hình và phẩm chất, giữa quá khứ và hiện tại, chúng ta không thể bỏ qua họ. nhân vật thanh cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn tuẫn là sự kết hợp giữa người nghệ sĩ tài hoa và người anh hùng bất khuất, bất khả chiến bại. hay chú kadimodo ở thánh đường Notre-dame de pari có ngoại hình rất xấu xí, nhưng tâm hồn rất đẹp và thánh thiện

trong tiểu thuyết Những người khốn khổ, v.v., ông đã khai thác triệt để vẻ đẹp của nghệ thuật tương phản. Với lối viết này, nhà văn đã tạo ra một kiểu nhân vật đặc trưng là nhân vật kép và nhân vật phức hợp. Juan vừa là một tù nhân vừa là một vị thánh, điều này đã làm cho cuộc tình đau khổ trở thành một bản hùng ca về ý thức của con người. bởi vì tác phẩm đã hé lộ quá trình con người đi từ bóng tối ra ánh sáng, đấu tranh với chính mình để đạt đến sự hoàn hảo. thông qua cô ấy, v. hugo gửi đến độc giả một triết lý sống sâu sắc: muốn cứu người, cứu người thì trước hết phải đánh bại cái ác trong chính mình.

4.1.2. khoảng cách giữa hai ký tự

Trong nhiều tác phẩm lãng mạn, luôn có sự song hành của hai nhân vật trái ngược nhau, qua đó, tư tưởng của tác giả được bộc lộ rõ ​​nét. chắc chắn chúng ta không thể quên cặp nhân vật mâu thuẫn gay gắt, john van jean và javeh giữa những người khốn khổ, một người đại diện cho những người khốn khổ và người kia đại diện cho quyền lực của xã hội tư bản. một người là thánh luôn ra sức bênh vực nhiều sinh mạng bé nhỏ, người kia là chó săn gián điệp luôn nằm chực chờ bắt giữ và tra tấn kẻ yếu.

4.1.3. sự liên kết giữa nhân vật và tình huống

Trong tác phẩm văn học, con người không chỉ là tổng thể các mối quan hệ xã hội mà còn là chân dung nhân vật hiện lên sinh động trong mối quan hệ với môi trường xung quanh. Đối với văn xuôi lãng mạn, tất cả chúng ta đều phải đặc biệt ấn tượng với sự thù địch giữa các nhân vật và hoàn cảnh.

4.2. sự tương phản trong nghệ thuật của môi trường xung quanh

Trong tác phẩm, hình tượng con người luôn hiện lên sinh động trong một cảnh vật nhất định. do đó, việc xây dựng bối cảnh cho sự xuất hiện của nhân vật đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn và thành công cho tác phẩm. các nhà văn lãng mạn đã phát huy tối đa tác dụng của nghệ thuật tương phản trong cách dàn dựng.

4.3. sự tương phản giữa các chi tiết

Theo từ điển thuật ngữ văn học, chi tiết nghệ thuật là: những chi tiết của tác phẩm có sức truyền cảm và tư tưởng lớn. Theo nhóm tác giả này, tùy theo cách thể hiện cụ thể mà các chi tiết nghệ thuật có khả năng biểu đạt, lý giải và làm sáng tỏ cấu trúc nghệ thuật của nhà văn, trở thành trọng tâm, điểm hội tụ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm. những chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới con người, với những truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định. (2) như vậy, các chi tiết nghệ thuật gắn liền với quan niệm nghệ thuật của nhà văn và quan niệm nhân sinh. Đối với người đọc, khi nhận ra những chi tiết có giá trị trong tác phẩm, chúng ta mới làm sáng tỏ được ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm, đồng thời hiểu được dụng ý sáng tạo của nhà văn. .

Nếu chủ nghĩa hiện thực nhấn mạnh tính chân thực của các chi tiết thì trong các tác phẩm lãng mạn, các nhà văn cũng dồn nén suy nghĩ về những chi tiết độc đáo được tạo nên bởi phong cách tương phản. Không chỉ trong tiểu thuyết, mà cả trong những câu chuyện lãng mạn, các nhà biên kịch luôn rất khéo léo trong việc xây dựng những tình tiết súc tích, ẩn chứa nhiều ẩn ý.

4.4. sự tương phản giữa các ý tưởng

Trong các tác phẩm lãng mạn, các nhà văn đôi khi sử dụng nghệ thuật tương phản để tạo ra một cốt truyện ngụ ý, qua đó khẳng định suy nghĩ và quan điểm của họ.

khái quát lại, chúng ta thấy rằng cùng với chủ nghĩa lãng mạn, văn học nhân loại đã có một chặng đường dài với những thành tựu rực rỡ ở tất cả các thể loại. Chủ nghĩa lãng mạn đã tạo ra một thời kỳ thơ mới, phá vỡ mọi khuôn khổ của thơ cổ, với thể thơ tự do, có sức bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của con người về thời đại. . những nghiên cứu lãng mạn làm sống lại những kiệt tác bất hủ.

chương 3: chủ nghĩa lãng mạn đặc trưng qua hai tác phẩm Người tử tù nguyễn tuấn và Hai người con trai của thach lam.

tôi. tác phẩm: từ tử tù nguyễn tuân theo

1. xây dựng nhân vật

1.1 ký tự giữa

Xem thêm: Những Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Nhà Văn Victor Hugo Nên đọc

giáo sư là một nhân vật do nhà văn thủ vai với ba vẻ đẹp, tài năng, khí phách và thiên lương

1.1.1 Kiểu nhân vật anh hùng ăn cắp nhân vật nổi loạn

Nhìn vào văn học lãng mạn Việt Nam, ta thấy Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân cũng có dáng dấp của một nhân vật thời loạn. tính cách rèn luyện cao trong kiểu chân dung tư tưởng. đây là một bức chân dung lý tưởng, sắc nét của một cây bút lãng mạn. do đó, cao nổi lên với một vẻ đẹp khác thường và khác biệt. cả tài năng, thiên tài và khí phách của ông đều phi thường. Huấn Cao là một anh hùng kiên cường, bất khuất, dám chống lại triều đình phong kiến. khi việc lớn không thành, anh ta bị bắt và sắp bị xử tử. nhưng anh vẫn điềm đạm, bình tĩnh, thể hiện khí chất kiêu hãnh, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, Huấn Cao không hề run sợ mà dồn hết tài năng, đức độ của mình để cải tà quy chính, trả lại cho viên quản ngục cuộc sống lương thiện. Qua hình ảnh này, Nguyễn Tuân muốn gửi đến người đọc một thông điệp: Trên đời này không chỉ có ngục quyền mà còn có sức mạnh của cái đẹp, đó là cái đẹp nổi loạn. thế kỷ XIX, nổi tiếng về chữ và nét chữ đẹp của ông. ông được tôn vinh như một vị thánh, và niềm tự hào của thời đại ở hai mặt đối lập: văn chương siêu đẳng, gào thét không tiếc tiền. Cao Bá Bẩm cũng là người nổi tiếng phóng khoáng, kiêu ngạo và có khát vọng thay đổi xã hội trong bối cảnh triều đình nhà Nguyễn trì trệ và bảo thủ. cuối cùng ông đã đi làm cố vấn cho việc dỡ bỏ các hình phạt chống lại triều đình. cô ấy là một người tài năng với một tinh thần dũng cảm và một nhân cách cao đẹp. Nguyễn Tuân đã thể hiện khuynh hướng của trào lưu lãng mạn, phủ nhận hiện thực của xã hội đương thời, trở về tôn lên vẻ đẹp của một thời đại đã qua mà nay chỉ còn là ngông cuồng. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện lòng yêu nước thầm kín của mình bằng cách ca ngợi vị lãnh tụ nghĩa quân được đào tạo bài bản, bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những anh hùng, thiên tài dám đứng lên chống lại pháp luật bằng gươm và súng.

2. sự tương phản của nghệ thuật trong việc xây dựng các nhân vật

2.1. tương phản trong một ký tự

Chúng ta không thể không nhắc đến nhân vật thanh cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, đó là sự kết hợp giữa một nghệ sĩ tài hoa và một người anh hùng dũng cảm, bất khả chiến bại. nhân vật giám đốc nhà tù có công việc và môi trường sống với sự tàn bạo và xấu xa, nhưng anh ta là người biết phân biệt tài năng với sở thích thanh tao.

2.2. sự tương phản giữa hai ký tự

trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn tuẫn, lối viết tương phản đã góp phần tạo nên một tình huống truyện độc đáo, đầy trớ trêu và bi kịch: cuộc gặp gỡ của hai nhân vật cao thủ và viên quản ngục. trên bình diện chính trị xã hội, họ là những kẻ thù, với những địa vị hoàn toàn trái ngược nhau. một người là đại thần, cầm đầu cuộc nổi loạn chống lại triều đình, nay là tù nhân, chờ ngày ra tòa để xử tội. trong khi người còn lại đại diện cho bộ máy cai trị trong xã hội đương thời, có nhiệm vụ quản thúc và tra tấn những người bị kết án tử hình. nhưng xét về nghệ thuật thì cả hai nhân vật đều là những người có tâm hồn nghệ sĩ, họ là tri kỉ, tri kỉ. một người có tài viết chữ đẹp, một nhà thư pháp nổi tiếng, người kia cả đời ngưỡng mộ tài năng đó, không màng đến an nguy tính mạng của mình và gia đình, miễn là có chữ luyện cao để thỏa ước mơ. Ở một khía cạnh khác, tình huống này còn là sự đối đầu giữa hai loại nhà tù, hai loại tù nhân. hình thành một con người hoàn toàn không có nhân cách nhưng bị mất mọi quyền, kể cả quyền được sống. giám đốc nhà tù hoàn toàn tự do trong cơ thể của mình, nhưng bị giam cầm trong nhân vật của mình. hoàn toàn có thể coi đây là cuộc gặp gỡ giữa một tử tù được đào tạo bài bản và một quản giáo trọn đời trong chính môi trường sống của mình. Bằng cách chọn tình huống này, nhà văn đã đặt viên quản ngục trước một sự lựa chọn trái ngược nhau: hoặc là làm tròn bổn phận của một Thượng Quan thì phải chà đạp lên từng tấc tâm hồn, hoặc muốn làm tri kỉ thì phải phản bội. của một quan chức, không phụ thuộc vào các quy định về đền tội và các quy định của luật tư pháp. Dù quản ngục hành động theo cách nào thì ý tưởng câu chuyện sẽ nghiêng về hướng đó. theo cách thứ nhất, chiến thắng sẽ thuộc về sự tầm thường, thấp hèn, độc ác. theo cách thứ hai, sắc đẹp chiến thắng. Liệu người quản giáo có dám chung tình với người bạn tri kỷ, có dám bất chấp lợi ích và sự an toàn của cuộc sống cá nhân và gia đình? Liệu người quản giáo có thể thoát ra khỏi nhà tù vô hình vẫn giam giữ người tù nhân cách của anh ta? Bạn có dám sống như hiện tại của mình không? bối cảnh của câu chuyện hấp dẫn và lôi cuốn người đọc theo dõi câu chuyện.

Do đó, nghệ thuật tương phản đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các tình huống và thể hiện các nhân vật.

2.3. sự liên kết giữa nhân vật và tình huống

đọc Chữ người tử tù của nguyễn tuấn, đôi khi ta chỉ chú ý đến nhân vật trung học mà quên mất nhân vật quản ngục. vì vậy, nhiều người đã không nhận ra rằng viên quản ngục cũng chính là hình ảnh mà nhà văn đã dày công khắc họa. cai ngục là một nhân vật thiên về chân dung và được xây dựng theo phong cách lãng mạn. ở nhân vật này có sự đối lập giữa cái tâm trong sáng với môi trường sống bẩn thỉu, thiếu đạo đức nghề nghiệp. người quản giáo phải sống trong một môi trường đầy rẫy những trớ trêu, trớ trêu, nơi con người sống từ sự tàn nhẫn, từ sự lừa dối. Nguyễn Tuân nhận xét: Ông trời thường chơi ác, đày ải người trong sạch giữa một đống cặn bã. và những người có tâm tốt và trực tiếp phải dành cả cuộc đời của họ cho những con sóc. tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh nào, người quản giáo vẫn là người có tấm lòng nhân hậu, ẩn chứa những phẩm chất đáng quý, giọng hát trong trẻo chen vào giữa một bản nhạc nơi âm nhạc hỗn loạn, hỗn loạn. dám sống đẹp, dám làm. được là chính mình và luôn xuất hiện như một người bạn tâm giao có học thức cao. anh ta là một người có quyền lợi cao quý. Tâm nguyện cả đời của viên quản ngục là một ngày nào đó sẽ được treo đôi câu đối viết trên tay của chủ nhân ngay tại nhà riêng của mình. nước mắt: kẻ ngu dốt này xin cúi đầu. có những cái cúi đầu khiến người ta thấp hèn, có những cái lạy khiến người ta trở nên nhỏ mọn. mà còn có sự ràng buộc khiến con người trở nên cao quý hơn, sang trọng hơn. đó là sự cúi đầu trước tài năng, sắc đẹp, thiên lương. thần hộ mệnh cúi đầu trước cao, nhắc nhở chúng ta về sự cúi đầu của cao ba đối với hoa mai: nhất sinh để yêu mến hoa mai.

Vì vậy, các ví dụ sinh động được thảo luận ở trên cho chúng ta thấy rằng nghệ thuật tương phản có tầm quan trọng to lớn trong việc khắc họa sống động các nhân vật của các nhà văn lãng mạn.

3. sự tương phản trong nghệ thuật của môi trường xung quanh

nguyen tuan không chỉ nổi tiếng với tài vẽ chân dung mà còn có biệt tài dàn dựng cảnh. cảnh chữ (trong chữ xử tử) được dựng bằng thư pháp lãng mạn. ở đó, nghệ thuật tương phản được phát huy hết tác dụng: tương phản giữa sáng tối: giữa bóng tối dày đặc, dày đặc của nhà tù tỉnh với ánh sáng rừng rực của ngọn đuốc dầu, ánh sáng le lói của dải lụa trắng còn nguyên, trong trắng. ánh sáng của tâm hồn con người. nó cũng là sự tương phản giữa cái tốt, cái cao và cái thấp; giữa cái đẹp và cái xấu, tầm thường. đây là một cảnh tượng chưa từng thấy trước đây. đối với chữ thường diễn ra trong phòng làm việc sạch sẽ và trang nghiêm, trong phòng làm việc sạch sẽ và trang nghiêm, trong hương thơm và giữa những người ăn mặc khách. nhưng ở đây, cảnh ngôn từ lại diễn ra trong một nhà tù ẩm thấp, chật chội, bẩn thỉu. nơi mà bóng tối, xấu xa và cái ác ngự trị vốn thù địch với cái đẹp, nó trở thành nơi cái đẹp được sinh ra và tỏa sáng. trong cảnh này có sự đảo lộn vị trí của các nhân vật: người nghệ sĩ tài hoa, say mê vẽ từng nét, không phải là người tự do, mà là một tử tù bị còng tay, chân còng và rạng sáng ngày hôm sau. ông bị đưa về kinh để bị kết án tử hình. cao cao hiện lên như một nghệ sĩ say mê sáng tạo nghệ thuật, tạo ra những con chữ thể hiện hoài bão của một đời người. những giây phút cuối cùng của cuộc đời người tử tù không khỏi than thở cho số phận của mình. trong những thời khắc thiêng liêng nhất, cấp ba vẫn dành trọn cho cái đẹp. hình ảnh thanh cao uy nghiêm đối lập với hình ảnh nhà thơ run rẩy cầm bình mực và viên quản ngục khiêm tốn canh những đồng tiền kẽm với trò giải ô chữ. khiêm tốn không phải là sợ hãi, mà là sự thận trọng tôn kính khi đối mặt với vẻ đẹp siêu nhiên giữa ngục tù bẩn thỉu. trật tự, kỷ cương trong trại giam bị đảo lộn hoàn toàn: Quản giáo, người có quyền mà không có quyền. quyền hành đã thuộc về người tù, người đã bị tước bỏ mọi quyền, kể cả quyền được sống. đại diện chính quyền khiêm tốn, sợ hãi cúi đầu trước người tù; các tù nhân hào hiệp, đàng hoàng. là người có nhiệm vụ thuyết phục, giáo dục người phạm tội, nay lại được chính người phạm tội dạy dỗ, cải đạo. cán bộ quản giáo cung kính tiếp nhận từng lời nói của tử tù như những lời dặn dò thiêng liêng về nhân cách. người được an ủi, động viên ở đây không phải là người sắp bị giết, mà là người đại diện cho sức mạnh của tự do. giữa ngục tù tàn bạo, không phải những kẻ đại diện cho thế lực cầm quyền, mà chính là những người tù sở hữu nó. như vậy, nghệ thuật tương phản có ý nghĩa to lớn, thể hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm: đó là sự chiến thắng của ánh sáng trước bóng tối, của cái đẹp trước cái xấu và cái dơ, cái thiện trước cái ác. đó là vẻ đẹp của nhân cách, tài năng, khí phách và lòng nhân ái của con người.

4. sự tương phản giữa các chi tiết

Nếu chủ nghĩa hiện thực nhấn mạnh tính chân thực của các chi tiết thì trong các tác phẩm lãng mạn, các nhà văn cũng dồn nén suy nghĩ về những chi tiết độc đáo được tạo nên bởi phong cách tương phản. Không chỉ trong tiểu thuyết, mà cả trong những câu chuyện lãng mạn, các nhà biên kịch luôn rất khéo léo trong việc xây dựng những tình tiết súc tích, ẩn chứa nhiều ẩn ý.

i. tác phẩm của hai thạch nhũ

1. các ký tự liên quan

Tác giả đặt các nhân vật vào trung tâm của câu chuyện. tính cách tâm hồn của cô gái được thể hiện qua đôi mắt tinh tường và những suy nghĩ, cảm xúc khi cô đối mặt với cuộc sống trong một khu ổ chuột. Với khả năng khám phá thế giới nội tâm phong phú và tinh tế, thạch nhũ đã tái hiện chân thực vẻ đẹp tiềm ẩn trong những nhân vật gắn liền với …

1.1. liên kết có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và nhân hậu của một đứa trẻ yêu thương.

1.1.1. yêu thiên nhiên: trái tim anh ấy nhạy cảm một cách tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên

– tâm hồn của cô gái ngây thơ ấy đã rộng mở để chấp nhận những thay đổi tinh vi của cảnh vật. không ngừng biết được sự thay đổi của trời đất cuối ngày:

+ Tôi nghe rõ từng âm thanh báo hiệu một ngày kết thúc: từ tiếng trống trận; tiếng ếch nhái kêu râm ran ngoài đồng; cả tiếng vo ve của muỗi. như thể tôi đang hấp thụ bầu không khí êm đềm và thanh bình của buổi chiều đồng quê.

+ Ánh mắt của lien bao quát cả bầu trời phía Tây rực sáng khi hoàng hôn. bầu trời hồng rực như lửa, với những đám mây “rực rỡ như một hòn than sắp tàn”. Trên nền trời nổi bật đường viền u ám của rặng tre … khoảnh khắc cuối ngày đánh thức trong cô một nỗi buồn mơ hồ.

Xem Thêm : Bài soạn lớp 8: Lão Hạc | baivan.net

Không chỉ yêu phong cảnh, anh ấy còn rất thích vùng đất này. Quan sát cảnh họp chợ tan, tôi cảm nhận được sự tuyệt vọng của vùng đất nghèo qua đống rác thải dưới đáy chợ “vỏ bưởi, lá nhãn, lá mía”. Tôi yêu mảnh đất này đến nỗi tôi thậm chí còn biết mùi của bụi “một mùi bụi ẩm ướt khiến bạn nghĩ rằng đó là mùi duy nhất của vùng đất này.”

– Đặc biệt bạn sẽ tìm thấy ở đây vẻ đẹp bình dị mà giàu chất thơ. qua cảm nhận của tôi, một đêm mùa hạ bỗng trong trẻo và tĩnh lặng lạ thường “trời bắt đầu tối, đêm hè êm như nhung, gió mát thổi qua”. thậm chí còn có vẻ đẹp của bầu trời đêm sâu thẳm với hàng ngàn ngôi sao thi nhau tỏa sáng …

= & gt; cách cô ấy cảm nhận về thiên nhiên cho thấy tâm hồn cô ấy luôn rộng mở và yêu thương thế giới xung quanh.

1.1.2. trái tim anh không chỉ yêu thiên nhiên mà còn biết yêu thương, đồng cảm với nỗi khổ của con người.

– đánh đổi cuộc sống của những người nghèo khổ.

+ Tôi cảm thấy buồn khi nhìn những đứa trẻ nghèo phải nhặt rác mặc dù tôi biết tôi không có tiền cho chúng.

+ liên kết cho ông già điên với một ly rượu đầy.

<3

+ ánh mắt đầy trăn trở khi chứng kiến ​​hoàn cảnh của gia đình chú mình, “cả nhà ngủ gục trên chiếc chiếu rách nát; cái chậu sắt trống không …” Tôi như mường tượng ra cái đói. họ.

– cùng với nỗi buồn trước cuộc sống vất vả, nghèo khó của người dân phố huyện, cô gái cũng cảm nhận được sự bế tắc trong cuộc sống của họ. họ bị giam cầm giữa bể đời, xung quanh là bóng tối, không ánh sáng, không tương lai. ánh mắt của anh ấy đầy lòng trắc ẩn sâu sắc. “Vì vậy, nhiều người ngồi lặng lẽ trong bóng tối như thể chờ đợi một điều gì đó tươi sáng hơn.”

= & gt; Nó thể hiện những cảm xúc sâu lắng và tinh tế khi tiếp xúc với thiên nhiên, con người và cuộc sống. thạch nhũ đã hé lộ một thế giới tâm hồn trẻ thơ trong sáng và đầy yêu thương.

1.1.3. Anh ấy không chỉ biết yêu cô ấy mà còn biết ước mơ và nhìn về tương lai.

Xem thêm: Về khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo. Cảm hứng là gì? – Tài liệu text

1.1.3.1. tâm hồn luôn lo lắng cho ánh sáng

– bản thân cô phải sống trong không gian tối tăm và hoang vắng của con phố nghèo, đặc biệt là bóng tối bao trùm khắp thế giới và chiếm giữ mọi thời gian và không gian. Không phải ngẫu nhiên mà những măng đá làm nổi bật màn đêm đen đặc “những con đường, ngõ hẻm chìm trong bóng tối… khắp con sông, con đường vào chợ, những con hẻm dẫn vào phố thị…”. trong cái nền của cuộc đời tăm tối ấy, hình ảnh hai chú bé tội nghiệp như bị giam cầm trong bóng tối “, từ khi gia đình chuyển vào đây ở Hà Nội, từ khi có cửa hàng này, đêm nào cũng vậy, anh chị cũng phải ngồi với khung cảnh đường phố xung quanh bóng tối. “

– nhưng với tất cả sức sống của một tâm hồn trẻ thơ trong sáng, lien không chịu “khuất phục” trước cái bóng dày đặc ấy của tôi. mắt tôi luôn háo hức tìm kiếm nguồn sáng. có khi anh nhìn lên bầu trời đêm thăm thẳm để chiêm ngưỡng “ngàn vì sao tranh nhau tỏa sáng”, có khi anh lại nhìn những ánh đèn gần gũi, ấm áp xung quanh mình: đèn dây sáng trưng trong cửa hàng; ánh sáng nhỏ của tên em gái nhỏ; … thậm chí mơn trớn từng hạt ánh sáng lọt qua khe. tâm hồn tôi như một chồi non khỏe mạnh luôn hướng về ánh sáng.

1.1.3.2. anh ấy cũng biết cách tìm kiếm niềm vui và nhìn về tương lai. vẻ đẹp này được thể hiện qua sự mong đợi của chuyến tàu đêm qua thành phố của huyện.

– Tôi thức đợi tàu để không bán thêm hàng, nhưng tôi chờ tàu để thấy một dòng sông ồn ào, một ánh đèn sáng. bởi vì con tàu đó là niềm vui duy nhất sau một ngày dài buồn tẻ và tăm tối khi sống ở đây … vì vậy hãy tiếp tục chờ đợi nó như người ta chờ đợi một điều gì đó tuyệt vời và tuyệt vời.

– đánh thức tôi từ khi tàu chưa đến, đón tôi với tất cả niềm vui và hạnh phúc

+ qua mắt tôi, đoàn tàu bỗng trở nên lộng lẫy lạ thường “đoàn tàu lao thẳng về phía …” con tàu như lạc vào một thế giới thần thoại. gợi lên vô vàn cảm giác nhớ về quá khứ hạnh phúc và mơ về một thế giới khác

+ khi tàu chạy qua, cô ấy vẫn còn trông rất sốc. Đó là một chuỗi những suy nghĩ mông lung mà tôi không thể giải thích được. Tôi chìm vào giấc ngủ với suy nghĩ “mình sống giữa bao nhiêu khoảng cách vô định như… một vùng đất nhỏ” suy nghĩ ấy cho thấy cô ấy đã sớm có ý thức về bản thân, sự thức tỉnh về cái tôi cá nhân. Mong rằng cô gái có trái tim tươi sáng mãi mãi không phải là tù nhân trong cuộc sống tăm tối và tù đọng này.

2. nghệ thuật tương phản

Còn với hai người con của thạch nhũ, người đọc đặc biệt ấn tượng với hai chi tiết tương phản, đó là bóng tối và ánh sáng. bóng đổ làm xáo trộn những chi tiết nghệ thuật đè nặng lên cảnh vật và con người. bóng tối ập đến cùng với tiếng trống trận, với những đám mây hồng như cục than hấp hối, với những hàng tre làng trước mặt chuyển sang màu đen. ánh sáng ban ngày vẫn còn đó, nhưng mờ. một bóng tối mới xuất hiện, nhưng nó bắt đầu lấn át ánh sáng. rồi từng bước, bóng tối ngày càng sâu, tràn ngập, lan rộng và thống trị cả thị trấn: các con đường, ngõ hẻm dần chìm trong bóng tối, đến tận sông, hết chợ về nhà, ngõ vào thị trấn. thậm chí còn tối hơn. bóng tối tràn ngập trong mắt cô, cô đã quen với đêm đen. mọi hoạt động của con người bắt đầu từ chiều cho đến đêm khuya. không dưới 30 lần hình ảnh bóng tối xuất hiện, bóng tối như một thứ gì đó đáng sợ xâm chiếm, di chuyển trong mọi cảnh vật, bao quanh mỗi con người. tạo khoảng đen đặc cho hình ảnh thành phố huyện. bóng tối trở thành nỗi ám ảnh về một cuộc sống tăm tối, trì trệ và buồn tẻ. Đối lập với bóng tối dày đặc và bao trùm, là hình ảnh của một ánh sáng nhỏ và yếu ớt, được miêu tả rất khắc nghiệt, hiếm hoi và cô đơn, chỉ là những khe sáng, những hạt ánh sáng, những quầng sáng, những tia sáng, những đốm lửa. , nó không đủ để soi sáng không gian mà còn làm nổi bật bóng tối dày đặc và mênh mông của phố huyện. nếu ánh sáng và âm thanh là biểu tượng của sự sống, thì bóng tối và cô đơn là biểu tượng của hư vô và cái chết. cuộc sống hiện tại của hai chị em là một làng huyện chìm trong bóng tối, nghĩa là sống tắt thở, chết như quên, một vùng đất chết, vô hồn. nên hai chi tiết đối lập này đã góp phần thể hiện sâu sắc thông điệp của thach lam: hãy cho con người một cuộc sống khác, cho hai đứa trẻ một tương lai khác nhau, cứu sống đứa trẻ, cứu đất huyện, cứu sống trên cõi đời này. con người có thể ẩn danh nhưng họ không thể sống mà không có ý nghĩa.

chương 4: hướng dẫn học sinh tìm hiểu để thấy sự khác biệt giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực.

1. một số khác biệt trong phương thức phản ánh giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn.

1.1. nguyên tắc phản ánh hiện thực

chủ nghĩa hiện thực coi trọng các nguyên tắc lịch sử cụ thể. chủ nghĩa hiện thực tập trung vào mô tả khách quan của cuộc sống.

chủ nghĩa lãng mạn coi trọng nguyên tắc biểu đạt. văn học lãng mạn sáng tạo ra những nhân vật, những hình tượng, những tình huống để thoả mãn sự thể hiện lí tưởng và tình cảm mãnh liệt của nhà văn. các nhân vật hành động theo ý muốn chủ quan của tác giả, bộc lộ trực tiếp tư tưởng của người viết.

1.2. chủ đề, cảm hứng, lý tưởng thẩm mỹ

chủ nghĩa hiện thực:

cảm hứng chủ đạo là phê phán, vạch trần và phê phán hiện thực xã hội. lý tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa hiện thực nhân văn. chủ nghĩa hiện thực đối với cái bình thường. với những nhà văn hiện thực, cái đẹp gắn liền với hiện thực.

chủ nghĩa lãng mạn:

Các nhà văn lãng mạn có xu hướng tìm kiếm điều đặc biệt với điều đặc biệt. chẳng hạn truyện ngắn về người tử tù tạo nên không khí thánh thiện lạ thường, con người tài hoa, dũng cảm một cách rất nghệ thuật, như Huấn Cao. văn học lãng mạn còn xây dựng những hình tượng con người vượt lên trên thực tế cuộc sống của hoàn cảnh, hướng tới những gì tốt đẹp hơn, thiêng liêng hơn hiện thực. đôi khi chúng chỉ là những khát vọng mơ hồ nhưng cũng đủ để niềm tin của con người có chỗ đứng vững chắc.

Chủ đề của văn học hiện thực là những vấn đề nhức nhối của xã hội, những mâu thuẫn và mâu thuẫn giai cấp.

chủ đề trong văn học lãng mạn là tình yêu, thiên nhiên, quá khứ, văn hóa,

chủ đề của văn học hiện thực là những vấn đề nhức nhối trong xã hội, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn. Các chủ đề của văn học lãng mạn là tình yêu, thiên nhiên, quá khứ, văn hóa và những vấn đề vĩnh hằng.

1.3. hệ thống hình ảnh

1.3.1. Chủ nghĩa hiện thực mô tả cuộc sống bằng những hình ảnh tương ứng với bản chất của các hiện tượng của cuộc sống, do đó chủ nghĩa hiện thực thường sử dụng các nguyên mẫu và ghét hư cấu bị phát minh ngay cả khi chọn một cái tên, cái tên cho chúng cũng rất gần gũi với cuộc sống. văn học hiện thực mô tả các cá thể và hiện tượng ngẫu nhiên có tính quy luật, không phải ngẫu nhiên ngoại lệ; những hình ảnh mà nhà văn miêu tả phải thể hiện được bản chất của cuộc sống. văn học hiện thực thường khắc họa hình ảnh thông qua nghệ thuật sắp đặt. Đánh máy là một biện pháp nghệ thuật nhằm làm tiêu biểu cho hình tượng nghệ thuật và là con đường đưa sự sáng tạo nghệ thuật đạt chất lượng cao. điển hình là hình thức khái quát đặc trưng của phương pháp hiện thực được hình thành trên cơ sở quan sát tình hình lặp đi lặp lại tương đối ổn định của các hiện tượng nhân cách và quá trình sống cùng loại trong thực tế. cần phải quan sát những người cùng loại để tạo ra một ví dụ xác định về leptostom. Vì lẽ đó, chủ nghĩa hiện thực rất coi trọng mối quan hệ biện chứng giữa nhân vật điển hình và hoàn cảnh điển hình.

Tính cách điển hình là sự kết hợp hài hòa giữa tính cá nhân và tính khái quát cao với năng lực khái quát cao. nghĩa là anh ta vừa có tính cách riêng, vừa có đặc điểm của một giai cấp, tầng lớp trong xã hội, tính cách điển hình là người lạ mà quen này.

hoàn cảnh điển hình là những hoàn cảnh được tái hiện trong một tác phẩm phản ánh thiên nhiên hoặc một số đặc điểm thiết yếu của cuộc sống với các khái niệm giai cấp cụ thể. tính cách điển hình là sản phẩm của hoàn cảnh điển hình, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh điển hình.

1.3.2. chủ nghĩa lãng mạn xây dựng những nhân vật phi thường trong những hoàn cảnh phi thường, những nhân vật không tồn tại trong những hoàn cảnh không tồn tại. các nhà văn lãng mạn thường tìm kiếm những giá trị cao đẹp trong những cảnh đời u tối và trần tục; khám phá sự tuyệt vời ở những điểm đến bị thiệt thòi và bị kìm hãm. giữa hai đứa trẻ, thach lam cảm động, trân trọng khát vọng đổi đời, sống hạnh phúc hơn của những con người nhỏ bé bị lãng quên trong khu ổ chuột cũ. nguyễn tuân trong chữ người tử tù đã tìm thấy nét tươi sáng của nhân cách người tử tù trong ngục tù tăm tối; sự vươn lên của vẻ đẹp, thiên lương của một viên quan ngục, trong ngục tù xã hội phong kiến ​​xấu xa, suy đồi.

Các nhân vật của văn xuôi lãng mạn hành động theo trí tưởng tượng chủ quan của người viết và bộc lộ trực tiếp tư tưởng của tác giả. lien và an tuy còn nhỏ nhưng đã phải phụ mẹ chăm sóc một cửa hàng tạp hóa nhỏ để kiếm sống. hàng đêm họ cố thức để đón chuyến tàu đêm qua phố huyện. đoàn tàu với những toa tàu sang trọng, những ánh đèn rực rỡ soi đường và tiếng còi inh ỏi như mang đến một thế giới hoàn toàn khác đối lập với con phố phố huyện tối tăm và vắng lặng. nó dường như nhen nhóm trong tâm hồn trẻ thơ một khát vọng, tuy mơ hồ, nhưng cảm động và đáng trân trọng. nhà văn muốn gửi gắm qua đó khát vọng của những con người nhỏ bé bị lãng quên trong xã hội cũ

Văn học lãng mạn là sự tự do thể hiện cảm xúc của cái tôi cá nhân, các nhà văn viết tiểu thuyết lãng mạn có xu hướng tuyệt đối hóa vai trò của cái tôi cá nhân, đặt nó lên trên thực tế để bày tỏ suy nghĩ của họ. Nhân vật Chữ người tử tù thể hiện quan điểm thẩm mỹ riêng của Nguyễn tuấn: cái đẹp gắn với văn hóa dân tộc, gắn với cái thiện, có khả năng hiện thân của cái xấu, cái ác, cái đẹp luôn bất tử với cuộc đời. >

1.4. biểu hiện nghệ thuật

1.4.1. văn học hiện thực coi trọng tính xác thực của các chi tiết.

Chi tiết là đơn vị cấu tạo nhỏ nhất, là chất liệu xây dựng hình tượng văn học. các chi tiết có thể là một lời nói, một đặc điểm tính cách, một sự ràng buộc trong mối quan hệ

chi tiết có thật là những chi tiết có thật hoặc có thể phù hợp với cuộc sống thực.

vai trò của các chi tiết hiện thực: mỗi chi tiết có một ý đồ độc lập, giúp dệt nên những hình ảnh sống động, những nhân vật điển hình trong những tình huống điển hình.

1.4.2. văn học lãng mạn thường sử dụng ngôn ngữ tương phản, đối lập, khoa trương, phóng đại, giàu cảm xúc.

cảnh các con chữ trong Chữ người tử tù là một đoạn văn đầy kịch tính, sử dụng thành công nghệ thuật đối lập, tương phản. trước hết là sự đối lập tương phản của cảnh. chơi chữ là một trò tiêu khiển thú vị thường diễn ra trong các thư viện, nhưng nó diễn ra trong những phòng giam chật chội, ẩm thấp, với mạng nhện trên tường và phân chuột và gián trên sàn nhà. Đó là khoảng thời gian: cảnh từ không diễn ra giữa ban ngày mà diễn ra vào lúc nửa đêm khi lính canh ngủ, đêm cuối cùng của những người bị kết án tử hình. cả không gian và thời gian đều tăm tối. Tương phản với bóng tối và bụi bẩn đó là ánh sáng: ánh sáng đỏ của ngọn đuốc bôi dầu, màu trắng tinh khiết của tấm lụa trắng không đứt đoạn, hương thơm của lọ mực. Tuyệt vời hơn đối lập với bóng tối của ngục tù là sự sáng tạo của cái đẹp: vẻ đẹp của nghệ thuật, vẻ đẹp của tài năng, lòng dũng cảm và bản lĩnh. đó còn là sự tương phản của các nhân vật: vị trí và tư thế của các nhân vật trong cảnh vật bằng từ ngữ cũng thay đổi thứ bậc và ngôi kể. chủ là tù nhân, còng cổ, chân cùm, nét chữ in đậm trên nền lụa trắng tinh, nhưng phong thái điềm đạm của một con người tự do và mạnh mẽ nhất vì ông là tạo hóa của cái đẹp, tượng trưng cho cái đẹp. và phẩm giá của con người. cao cao là viết những dòng chữ cuối cùng của cuộc đời, nhưng không phải chết mà đi vào cõi trường sinh bất tử vì tài năng, khí phách và nhân cách của ông đang được mọi người trân trọng, gìn giữ. ngược lại, viên quản ngục vốn là người mạnh mẽ nhất lại cúi xuống nhặt những đồng tiền kẽm đánh dấu ô cho thầy viết. đây không phải là một cử chỉ sợ hãi và nghiêng ngả mà là sự ngưỡng mộ và kính trọng đối với những lời cuối cùng của cao cao. nhưng nét chữ vuông vắn, tươi tắn nói lên hoài bão cả đời của một con người, những nét chữ đó kết tinh tài năng, tâm huyết và vẻ đẹp của một con người một thời ngưỡng mộ. một nghệ sĩ tài hoa có thể tật nguyền, nhưng vẻ đẹp phi thường thì bất tử khi vẫn còn thiên lương trên đời. Liệu ánh sáng từ ngọn đuốc có phải là ánh sáng từ trời mà người tử tù đang thắp lên để cảnh tỉnh cán bộ quản giáo? chi tiết viên quan khom lưng và viên quan cúi đầu trước tử tù mà nước mắt lưng tròng, kẻ si tình này xin cúi đầu, đây là cái cúi đầu trước một nhân cách hiếm có, có lời thề danh dự. có thể khi thầy giáo cấp ba bị đưa về kinh để lãnh án chém thì cũng là lúc quản ngục ngả mũ trở về quê hương để giữ sức khỏe cho lành vì con người ta chỉ đáng được hưởng cái đẹp khi còn giữ được. the thien luong. Ngoài ra, các từ Hán Việt cổ như thiển trúc, chiếu chỉ, câu đối được sử dụng khéo léo, vừa phù hợp với không khí, cảnh vật, vừa góp phần tạo nên sự thần thánh cho các nhân vật theo lối thư pháp lãng mạn.

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn Học

Related Articles

Back to top button