Phân tích Chị em Thúy Kiều – trích tác phẩm Truyện Kiều HOCMAI

Tác phẩm chị em thuý kiều

Video Tác phẩm chị em thuý kiều

đoạn trích “Chị em thủy chung” trong tác phẩm truyện ngắn Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một trong những tác phẩm ôn thi lớp 10. Nhằm giúp các em nắm chắc hơn những kiến ​​thức trọng tâm của tác phẩm, hocmai sẽ tổng hợp chi tiết kiến ​​thức về đoạn trích “Chị em thủy chung”.

tôi. thông tin trích đoạn chị em thủy kiều

1. vị trí, loại đoạn trích

a. Đoạn trích của chị em Thủy Kiều ở đâu?

đoạn trích “chị thủy kiều” là một trong những bài thơ hay và đặc sắc nhất trong lịch sử xứ kiều. Để biết thêm chi tiết về tác phẩm hoàn chỉnh, hãy xem phần phân tích tác phẩm truyện kiều .

– “chị em Thủy Kiều” là phần i của vở kịch, có tên “gặp gỡ và đính hôn”. Với mạch thơ tập trung miêu tả cảnh gia đình hoàng tộc, đoạn thơ trên đã miêu tả vẻ đẹp và đức tính tốt đẹp của hai chị em Thuý Vân và Thuý Kiều.

b. chị em thuy kiều là giới tính nào?

– thuộc lĩnh vực tân thanh, đoạn trích Chị em thủy chung được viết theo thể thơ lục bát, nguyên tác là thơ lục bát.

– Nhà thơ Chế Lan Viên từng ca ngợi thơ Nguyễn Du rằng “Nguyễn Du viết Kiều, nước thành văn”. Thể thơ lục bát được sử dụng xuyên suốt trong lịch sử Truyện Kiều là niềm tự hào của nền văn học Việt Nam.

2. tóm tắt về chị em thủy kiều

Đoạn trích “Chị em thủy chung” thể hiện rõ nét chân dung đẹp đẽ của hai chị em thủy chung, không chỉ ở vẻ đẹp bên ngoài mà còn cả về nội tâm và đức tính bên trong. Thông qua những ẩn dụ thiên nhiên, hai chị em thủy chung và thủy chung hiện lên như hai vầng trăng đẹp mê hồn. bài thơ “thùy kiều là em, em là thủy chung” đã khéo léo thể hiện đẳng cấp của hai người con gái trong hoàng tộc. Nguyễn du gây ấn tượng với người đọc về tinh thần và nhân cách của hai kiều.

Dưới ngòi bút của ông, hình tượng thủy chung, thủy chung toát lên vẻ đẹp và tính cách thanh tao như hoa mai, hành động tinh thần, phẩm hạnh đoan trang, trong sáng như bông tuyết. ẩn dụ có hình ảnh ẩn dụ gợi tả hình ảnh người con gái với ánh mắt trong veo gợi cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc. Hai chị em tuy có ngoại hình giống nhau nhưng đều có vẻ đẹp hoàn hảo và trang trọng.

mỗi câu thơ đều mang nét cổ điển, nghệ thuật tượng trưng được lồng vào câu thơ của cụ Nguyễn Du với bao tình cảm trân trọng. Với nghệ thuật đòn bẩy, tác giả đã phác họa hình ảnh người em của Thúy Vân để làm nổi bật hình tượng Thúy Kiều.

ông ca ngợi hai chị em nhưng màu sắc lại khác hẳn khi nguyễn du chỉ dành bốn dòng để tả vẻ đẹp của nàng Vân, trong khi dành đến mười hai câu để miêu tả vẻ đẹp, tài năng và tình yêu của kiều nữ. nhan sắc của nàng kiều nữ được thể hiện là một nhan sắc vẹn toàn, “mười phân vẹn mười”. Trên thế giới có bao nhiêu người “mười phân vẹn mười”? đây là vẻ đẹp khiến thiên nhiên giận dữ và ghen tị với các sinh vật khác. với trí tuệ tài hoa, tâm hồn giàu tình cảm, khó tránh khỏi số phận nghiệt ngã, tàn nhẫn đang chờ đợi phía trước.

3. trích đoạn thiết kế chị em thủy kiều

Theo nội dung, phân đoạn “Chị em thủy chung” được chia thành 4 phần, bao gồm:

– phần đầu: 4 câu thơ đầu: trình bày hình ảnh chị em thủy chung

– phần thứ hai: 4 câu thơ tiếp theo: hình tượng nhân vật thủy chung

– phần thứ ba: 12 câu thơ sau: hình tượng một nhân vật có vẻ đẹp toàn diện

– phần bốn: 4 câu thơ cuối: lời bình của cụ nguyễn du về nguồn gốc và vẻ đẹp đức hạnh của chị em thủy chung

– với cấu trúc rõ ràng và hợp lý; Nguyễn du đã khéo léo giúp người đọc có cái nhìn tổng quan, sâu sắc về hai nhân vật chính trong đoạn trích.

= & gt; thiết kế này có liên quan đến thứ tự mô tả của các ký tự. ở giữa đoạn trích, tác giả có thể miêu tả cụ thể từng con người theo dụng ý nghệ thuật của họ. Trong đoạn trích “Chị em thủy chung”, thủy chung được miêu tả trước, thủy chung được miêu tả sau. đây là một thủ thuật nghệ thuật quan trọng của nguyen du.

ii. phân tích của chị em thủy kiều

1. phân tích bốn câu thơ đầu của chị em Thủy kiều: trình bày những hình ảnh về chị em Thủy kiều

nguyễn du sử dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật ước lệ và điển cố trong 4 dòng đầu của đoạn trích. Qua bốn câu thơ này, tác giả giới thiệu đôi nét về xuất thân, gia thế trong gia đình và nhan sắc của hai chị em ở nước ngoài:

“đầu tiên, hai người phụ nữ đầu tiên

thuy kieu là em gái của thuy van

bộ xương tâm linh

mỗi người mười điểm. ”

Hai dòng đầu của đoạn trích thể hiện vai trò và sự thể hiện của hai cô gái “sang nga” trong hoàng tộc:

– nhà thơ sử dụng từ “à de nga” – một từ mượn đắt của Trung Quốc, có nghĩa là những cô gái có vẻ đẹp giống như trăng trên bầu trời.

– câu đầu nói về hai người con gái đầu của hoàng tộc, thì câu tiếp theo, nguyễn du viết về thân thế và tên tuổi của hai cô gái.

– câu thoại “thuy kiều là em gái là thủy vân” thể hiện vai trò của hai chị em và cũng giới thiệu cho người đọc tên của hai người phụ nữ.

= & gt; Chỉ qua hai câu thơ, Nguyễn Du đã cho người đọc cái nhìn khái quát về hai người con gái đầu lòng của vua mình, với một người chị tên là Thúy Kiều và một người em tên là Thúy Vân. họ đều là những cô gái rất xinh đẹp.

Ngay sau đó, nguyễn du đã gợi lên vẻ đẹp của hai chị em thủy chung bằng cách so sánh vẻ đẹp với những hình ảnh thiên nhiên như hoa mai hay hoa tuyết:

Xem thêm: Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

– lối viết thông thường gợi lên ấn tượng về vẻ đẹp với tính cách thiếu nữ thanh tao và tính cách thuần khiết như tuyết. điển cố “xương mai” được sử dụng để mô tả cách hai chị em cao quý như hoa mai. hoa mai, một loài hoa đẹp cả về màu sắc và hương thơm: màu sắc tươi tắn, hương thơm quý phái. việc khắc họa tính cách của hai người bằng loài hoa này giúp người đọc có được cảm nhận về tính cách và cách ứng xử của hai chị em. Đó là một phong cách cao quý và đẹp đẽ.

– sử dụng “tuyết linh” cổ điển để một lần nữa nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong của hai người phụ nữ ở nước ngoài. cả thủy văn và thủy kiều đều mang thần thái của tuyết trắng. Tuyết, là một thực thể trong tự nhiên, có màu trắng và tượng trưng cho sự trong trắng và ngây thơ. câu này có nghĩa là cả hai chị em trong hoàng tộc đều quyến rũ, trong sáng và thuần khiết như hình ảnh của bông tuyết.

– nhịp điệu ở câu thứ hai và thứ ba lần lượt là 4/4 và 3/3, tạo cảm giác nhịp nhàng và cân xứng. người đọc qua hai câu thơ có thể cảm nhận được vẻ đẹp vươn tới hoàn mỹ của hai chị em thuỷ chung.

Lời bình của nguyen du tóm tắt bốn dòng đầu của bài thơ: “mỗi người một vẻ, điểm mười phân vẹn mười”:

– “Mỗi người một vẻ” thể hiện sự khác biệt giữa hai chị em, tuy đều có chung một vóc dáng thanh tú, duyên dáng nhưng giữa hai chị em vẫn có những nét khác biệt về nhan sắc, tính cách hay tâm hồn. .

– “mười phân vẹn mười” một lần nữa làm nổi bật và nhấn mạnh vẻ đẹp vẹn toàn, vẹn toàn của thủy kiều và thủy chung.

= & gt; câu thơ khơi dậy sự tò mò của người đọc về sự khác biệt giữa hai chị em, đồng thời cũng nhấn mạnh vẻ đẹp và tài năng của hai người. sử dụng những câu thơ tóm tắt khéo léo để giúp nguyễn du kết nối với những bài thơ miêu tả chi tiết về hai chị em.

= & gt; Có thể thấy, chỉ qua 4 câu thơ giới thiệu rất ngắn gọn nhưng Nguyễn Du đã gửi đến người đọc nhiều thông tin, từ đó gây được ấn tượng mạnh mẽ về vẻ đẹp của hai nhân vật Thúy Vân và Thúy Kiều. đây không còn là một nhân vật trong sách nữa mà đã hiện ra sống động trước mắt người đọc. Đồng thời, bốn câu thơ còn gián tiếp bộc lộ cảm hứng yêu cái đẹp, yêu thưởng thức và ngợi ca tài năng, vẻ đẹp con người của đại thi hào Nguyễn Du.

2. phân tích bốn câu thơ sau: hình tượng nhân vật thuy văn

sau khi khơi dậy sự tò mò của độc giả về vẻ đẹp khác biệt của hai chị em Thủy kiều, Thủy vân; nguyễn du viết thêm 4 câu thơ tả hình ảnh thủy vân. chỉ với 4 câu thơ, hình ảnh nhân vật thủy chung đã hiện ra đầy đủ, trọn vẹn trước mắt người đọc:

“vâng, nó trông rất trang trọng,

Xem Thêm : Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

trăng tròn, khuôn mặt đầy đặn.

<3

mây mất tóc, tuyết nhường chỗ cho màu da. ”

Dòng đầu tiên dùng để giới thiệu ngắn gọn về phong cách thủy văn:

– từ “see” trong câu đầu tiên là đánh giá chủ quan của người mô tả. độc giả như được hòa mình vào dòng thời gian nơi hai chị em sinh sống và gặp trực tiếp thủy vân.

– cụm từ “trang trọng khác người” như một lời khen ngợi đối với thủy chung, khi nói lên một vẻ đẹp rất trang nghiêm, cao sang và quyền quý. vốn đã mang trong mình vẻ đẹp kiêu sa của người con gái quý tộc, nay thùy văn lại càng được nguyễn du quý trọng với cụm từ “khác người”. qua đó bạn có thể hình dung, nhan sắc của cô ấy có phần nhỉnh hơn những người khác.

= & gt; Chỉ trong câu thơ đầu tiên, phong thái của Thúy Vân đã hiện lên như một người phụ nữ thanh lịch, đoan trang trong khuôn phép, phép tắc của xã hội phong kiến. đây là một ấn tượng tốt và giàu sức gợi.

Dưới đây, tác giả miêu tả cụ thể chân dung Thúy Vân bằng nghệ thuật ước lệ tượng trưng và nghệ thuật ẩn dụ, nhân cách hóa, so sánh:

– Với nghệ thuật ước lệ tượng trưng, ​​vẻ đẹp của đường vân được so sánh với những gì cao siêu và đẹp đẽ của thiên nhiên như trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. điều này giúp người đọc có cái nhìn cụ thể hơn về vẻ đẹp mà nguyễn du muốn khắc họa.

– hình ảnh ẩn dụ “trăng rằm” giúp hình dung khuôn mặt tròn đầy, nhân hậu, đẹp đẽ và trong sáng như khuôn mặt trăng rằm. trong khi đó, hình ảnh “nét mặt anh tuấn” lại vẽ nên cặp lông mày cong, sắc nét như chính con người anh. Văn học Việt Nam cũng có câu để miêu tả vẻ đẹp của mỹ nữ “mắt phượng, mày ngài”. đôi lông mày đó mang lại sự cân đối và hài hòa cho khuôn mặt trẻ trung của thuy van.

– Hình ảnh nhân hóa “hoa ngọc cười” được dùng trong câu thơ thứ ba để miêu tả khuôn miệng tươi như hoa với giọng nói trong trẻo truyền qua kẽ răng ngọc. một phần văn phong cũng được thể hiện trong bài thơ này: nhẹ nhàng, trẻ trung với khuôn mặt tươi tắn, phong thái đoan trang, nhẹ nhàng.

– ở câu tiếp theo, nguyễn du vận dụng một cách khéo léo nghệ thuật nhân hóa và so sánh: “mây rụng tóc, tuyết nhường màu da”. câu này chỉ mái tóc óng ánh của Thủy Vân, xanh hơn mây, da trắng hơn tuyết.

– thủ pháp liệt kê cũng được sử dụng rất tài tình khi tác giả tập trung miêu tả các nét trên khuôn mặt để chứng tỏ sự “đoan trang khác người” được đề cập ở dòng đầu tiên. Nguyễn du đã miêu tả từ bộ dáng đến từng chi tiết của khuôn mặt, từ khuôn mặt đến lông mày, nụ cười, mái tóc và cả sắc da. Hơn nữa, Nguyễn Du còn sử dụng nhiều từ tượng hình giàu sức gợi như “đầy đặn”, “nở hoa”, “vừa phải” để làm nổi bật và nhấn mạnh vẻ đẹp đầy đặn, dịu dàng, quý phái của người phụ nữ Thúy Vân.

– hai từ “thua cuộc” và “đầu hàng” ở dòng cuối cùng được nhà thơ sử dụng một cách đắt giá. hai thứ “mây” và “tuyết” là những sinh vật của tự nhiên, rất lớn, thậm chí chúng có thể tượng trưng cho bầu trời, hay nói một cách khái quát là xã hội phong kiến ​​thời bấy giờ. vẻ đẹp của thủy chung đối lập với những gì đẹp đẽ nhất của tự nhiên vẫn phù hợp và hài hòa trong khuôn khổ của xã hội phong kiến. cô ấy vẫn được đón nhận và yêu mến với vẻ đẹp duyên dáng và trang nghiêm của mình.

= & gt; từ bức chân dung miêu tả ngoại hình, chúng ta có thể nhìn ra tính cách và dự đoán vận mệnh tương lai của anh ta. Vân là một cô gái đoan trang, dịu dàng, nhân hậu, hoạt bát, một người phụ nữ chuẩn mực trong xã hội phong kiến ​​bấy giờ. thông qua cô, nhà thơ cũng gợi mở một dự báo về một tương lai yên bình và êm đềm trong cuộc đời cô.

3. phân tích 12 câu thơ sau: hình tượng nhân vật thủy chung với tất cả vẻ đẹp của nó

– trong việc miêu tả hình ảnh thủy văn, nguyễn du chỉ dùng bốn câu thơ. tuy nhiên, đối với nhân vật thủy chung, nhà thơ sử dụng mười hai câu. điều này thể hiện sự ưu ái và nét thư pháp mà nguyễn du muốn dành để miêu tả nhân vật chính này

– tình cảm ấy được thể hiện qua nghệ thuật đòn bẩy được sử dụng hết sức tài tình: nhân vật thủy chung được miêu tả là một vẻ đẹp kiêu sa, “uy nghiêm khác người” khiến “mây thua, tuyết phải chịu thua”. ” tất cả những điều này đóng vai trò làm nổi bật vẻ đẹp của thủy kiều:

“Kieu cay và mặn hơn,

so với tài năng thì hơn. ”

Xem thêm: Nhà nước và cách mạng | C. Mác Ph. Ăngghen V. I. Lênin Hồ Chí Minh

– so với thuy van, kieu nhieu hon. tác giả đặt chữ “can” trước hai chữ “sắc”, “mặn” để làm nổi bật vẻ đẹp trí tuệ sắc sảo và vẻ đẹp mặn mà của nhân vật nàng thùy kiều.

= & gt; Tuy không miêu tả cụ thể nhưng Nguyễn Du đã làm nổi bật lên trong mắt người đọc một Thúy Kiều với nhan sắc và tài năng nổi bật so với người em của Thúy Vân. cách miêu tả này còn giúp nhà thơ không bị trùng lặp, ngoài ra nó còn giúp khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc. điều này cho thấy tài năng của nguyễn du.

a. vẻ đẹp hình thể

Khác với thủy văn, nguyễn du không miêu tả cụ thể chi tiết về ngoại hình hay cốt lõi mà thay vào đó miêu tả về đôi mắt của thúy kiều theo cách “chỉ tay”. nhà thơ vẽ nên cái hồn của bức chân dung siêu thanh bằng những hình ảnh ước lệ và tượng trưng:

“làn thu với bức tranh mùa xuân”

hoa ghen thua liễu.

– Chân dung người phụ nữ xa xứ hiện lên qua những hình ảnh ước lệ và ẩn dụ như “làn thu, bức tranh xuân”. Qua ngòi bút của nhà thơ, vẻ đẹp của một vẻ đẹp tuyệt trần hiện ra trước mắt người đọc.

– đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thể hiện một phần tâm hồn và trí tuệ của người sở hữu chúng. vẽ chân dung một người phụ nữ ở nước ngoài, nguyen du tập trung vào việc miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt cô ấy.

– “làn nước mùa thu”, tức là làn nước mùa thu, được dùng để miêu tả một đôi mắt trong veo, tĩnh lặng nhưng trong sáng, huyền ảo và êm đềm như làn nước mùa thu.

– “xuân sơn” giúp người đọc liên tưởng đến đôi lông mày thanh tú và mềm mại như dáng núi mùa xuân. Khuôn mặt của Kiều được trời phú cho đôi lông mày và đôi mắt như những bộ dạng đẹp nhất trong các mùa, là minh chứng cho câu thơ “sắc nước hương trời” so với Thúy Vân em gái.

– cách miêu tả của nguyễn du trong hai câu thơ trước mang đậm nét truyền thống của văn học trung đại lúc bấy giờ. đan xen một cách cẩn thận, tác giả chơi với những câu thơ và ghép những đoạn miêu tả với những mảng màu sáng tối kết hợp rất hài hòa.

– Sử dụng hình ảnh nhân hoá “hoa ghen”, “liễu hờn” để thể hiện thái độ của thiên nhiên trước vẻ đẹp của nàng thuỷ chung. nguyễn du một lần nữa không trực tiếp miêu tả vẻ đẹp của kiều nữ mà khẳng định điều đó bằng cách miêu tả sự đố kị, ghen ghét của tạo hoá.

= & gt; Vẻ đẹp của kiều nữ giờ đây không chỉ sắc sảo, mặn mà hơn thùy vân mà còn khiến thiên nhiên phải ghen tị. vẻ đẹp mê hồn khiến hoa phải ghen tị, dáng vẻ tươi trẻ trong sáng tràn đầy sức sống khiến cây liễu cũng phải ghen tị.

Hai câu thơ sau vừa khẳng định thêm về vẻ đẹp của người phụ nữ ngoại quốc vừa gợi mở thêm về tài năng của người đẹp:

“một hoặc hai nghiêng mặt nước sang một bên

sắc bén phải nhờ đến tài vẽ hai ”

– Vẻ đẹp của thủy chung lại được Nguyễn Du tôn lên khi không chỉ khiến thiên nhiên phải ghen tị mà còn chiếm được lòng người qua câu chuyện kinh điển “nghiêng nước nghiêng thành”.

– “nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo của điển cố “chủ yếu là biến người thành, về quê người”. câu nói này tạm dịch là “một người phụ nữ xinh đẹp nhìn lại một lần nữa, nghiêng người, một người phụ nữ xinh đẹp nhìn lại một lần nữa, nghiêng người”. sắc đẹp của thủy chung vươn lên sánh vai với sắc đẹp khiến nước nghiêng thành, thành sụp đổ. Không chỉ xinh đẹp tuyệt trần mà cô ấy còn rất tài năng, thể hiện ở câu “đẹp phải cần một tài mới vẽ hai”.

– Gương mặt thủy chung mang lại ấn tượng mạnh và sức gợi lớn cho người đọc. đó là vẻ đẹp của vẻ đẹp có một không hai, vẻ đẹp bất chấp và vượt qua những quy luật của tự nhiên.

= & gt; vẻ đẹp của thủy chung đã phần nào nói lên tính cách và số phận của nó. vẻ đẹp của nó không hài hòa mà vượt quá giới hạn quy luật của tự nhiên và xã hội. khuôn mặt của anh ta khiến cho những mỹ nhân khác của thiên nhiên phải ghen tị, phẫn uất và ghen tị; gây ra một mong muốn trả thù. Nguyễn Du đã tiên đoán về một số phận đầy sóng gió, sóng gió vì “chữ lành gở thì ghét nhau”.

b. vẻ đẹp tâm hồn và tài năng hơn người

Vẻ đẹp ngoại hình của

Xem Thêm : Tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục – Chị em Thúy Kiều – Nguyễn Du – Văn 9

kiều nữ được coi là một đại mỹ nhân. Nhưng không dừng lại ở đó, Nguyễn Du còn miêu tả nàng có những đặc điểm của một người phụ nữ thông minh, bẩm sinh khôn ngoan, tài giỏi trên nhiều lĩnh vực:

“Thông minh vốn dĩ là thần thánh,

<3<3

sự nghiệp tư nhân ăn nên làm ra. ”

– Việc thể hiện cái kiều với vẻ đẹp trí tuệ là một bước tiến táo bạo trong văn chương của Nguyễn Du. Hiếm khi nào trong văn học trung đại, các tác giả coi trí thông minh xuất chúng của người phụ nữ là một khía cạnh đáng khen ngợi. vì người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​thường chỉ được gán cho những đức tính như “nhân ái, dung, ngôn, hạnh”, “liêm – chính – thi – họa” hay “tam tòng, tứ đức” chứ không có gì là thông minh cả.

= & gt; ca ngợi trí thông minh của kiều nữ trong bối cảnh xã hội phong kiến ​​bấy giờ có thể coi là một chí tiến thủ, một sự dũng cảm, gan dạ mà chỉ có Nguyễn Du mới làm được. đã đưa nhân vật ra nước ngoài: một người phụ nữ với vẻ đẹp hoàn mỹ, vượt ra khỏi những chuẩn mực khắt khe của xã hội phong kiến, một xã hội trọng nam khinh nữ.

– Kiều là một cô gái có nhiều tài lẻ: cô là một chuyên gia chơi đàn nguyệt (chơi đàn hạc), chơi cờ (khí), ngâm thơ (thi) và vẽ (vẽ). không chỉ tài năng, anh ấy còn đạt đến mức xuất sắc.

Đặc biệt, tài năng chơi đàn của Kiều đã được nguyen du miêu tả:

“ngũ âm”, “ăn đàn”: tác giả minh chứng rằng cây đàn là tài, là đồn của kiều. khả năng chơi đàn của anh ấy điêu luyện và chuyên nghiệp vượt quá khả năng của người thường

– kiều hiểu âm nhạc: anh luôn nắm vững quy luật âm nhạc; cô cũng rất am hiểu về 5 cung bậc của quy luật âm thanh là cung, thương, côn, trui, vũ, và hiểu cách sắp xếp giọng nói rõ ràng, cao thấp trong âm nhạc

Xem thêm: Nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm số đỏ – KimContent

– Không chỉ chơi đàn giỏi, Kiều còn có khả năng sáng tác. bài hát “bac par ” được nhắc đến trong câu hát là giai điệu do chính cô viết. giai điệu nhẹ nhàng mà khi cất lên, ai cũng xúc động và bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc

– miêu tả tài năng chơi đàn tính là cách nguyen du khéo léo khắc họa thế giới nhạy cảm, đa sầu đa cảm bên trong thủy chung. vì nghệ thuật phản ánh tâm hồn của người nghệ sĩ. chỉ những người có tâm hồn nhạy cảm và tinh tế mới có thể viết nên những ca khúc chạm đến trái tim người nghe.

– Đặc biệt, tác giả nhắc đến tựa đề “bac mệnh”, một tác phẩm âm nhạc do chính cô sáng tác. danh hiệu “bạc mệnh” như một điềm báo về cuộc đời bấp bênh, gương mặt bạc phếch không thể tránh khỏi của anh.

– những từ ngữ mà nguyen du dùng để miêu tả tài năng của Thủy kiều cũng rất đặc biệt. đôi khi anh ta dùng những từ ngữ cao siêu như “bản tính vốn có”, “đủ mùi” hay “may mắn”, “ăn nên làm ra” để thể hiện tài năng vô song. khi anh dùng những từ khiêm tốn và khiêm tốn như “tác phẩm thơ”, nhưng sâu trong đó là sự ngưỡng mộ và kính trọng của tác giả đối với tài năng toàn năng hiếm có của một người phụ nữ trẻ.

= & gt; Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại, hình tượng người phụ nữ với vẻ đẹp nữ tính hoàn mỹ từ hình thức đến tâm hồn được thể hiện bằng một giọng ca ngợi ca trân trọng như Nguyễn Du đã viết về Thúy Kiều.

= & gt; qua mười hai câu thơ, tác giả đã thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp hội tụ của sắc – đẹp – tài – tình, đều ở mức lý tưởng và nổi bật của nhân vật thủy chung. Đồng thời thể hiện tài năng và sự tinh tế của Nguyễn Du trong cách sử dụng nghệ thuật miêu tả nhân vật.

4. phân tích 4 câu thơ cuối: lời bình của nguyễn du về nguồn gốc và vẻ đẹp đức hạnh của chị em thủy chung

– Sau khi vẽ xong chân dung hai chị em văn và kiều, nguyễn du đã nhận xét về cuộc đời của họ qua 4 dòng cuối của đoạn trích:

“rất thanh lịch trong chiếc quần đỏ,

mùa xuân xanh sắp đến vào tuần tới

bóng tối và rèm cửa,

bức tường đầy ong và bướm. ”

Như vậy có thể thấy, hai chị em Thủy Vân và Thủy Kiều không chỉ là những người phụ nữ có nhan sắc vẹn toàn, nhan sắc vô song, mà còn là người con gái đức hạnh, có nếp sống nề nếp:

– Hoàn cảnh xuất thân: hai chị em là con gái đầu của một gia đình giàu có, học giỏi. anh ấy có một người cha là tiếng phổ thông và được giáo dục cẩn thận về cách cư xử, cách cư xử và cách cư xử.

– cuộc sống: hiền lành, điềm đạm, ít nói, đến tuổi lấy chồng nhưng rất kín đáo và ít giao du

– cụm từ “xấp xỉ xuân xanh”, “kê cuối tuần” gợi cho ta nhớ đến cái tuổi “đầu bù tóc rối” của cả hai chị em. Dù đã đến tuổi kết hôn nhưng họ vẫn sống kín đáo, không hề biết nam nữ.

– thành ngữ “treo khăn che mặt” thể hiện lối sống khép kín, điển hình của thiếu nữ thời xưa. họ xinh đẹp, tài năng nhưng cũng được gia đình bao bọc. Những phụ nữ trẻ này thường chỉ ở nhà, học việc nhà, nề nếp và có rất ít cơ hội giao tiếp với thế giới bên ngoài.

– Hình ảnh ẩn dụ của “con bướm” để chỉ những người đàn ông tán tỉnh phụ nữ cho vui. Với nhan sắc vẹn toàn của hai chị em ở nước ngoài, hẳn sẽ có rất nhiều chàng trai để ý và tán tỉnh. mặc dù vậy, cả hai chị em đều không quan tâm, họ không quan tâm, giữ cho mình phẩm giá của những tiểu thư quyền quý.

= & gt; Hai chị em ở nước ngoài đều là những thiếu nữ trưởng thành, có nhan sắc hoàn hảo từ nhan sắc đến tài năng, nhưng với lối sống trầm mặc nên vẫn giữ được tâm hồn trong sáng. sự thuần khiết của nó giống như hai bông hoa còn trong nhụy, được nâng niu, che chở và chưa từng tỏa hương cho ai. đó là vẻ đẹp của phẩm chất thanh cao, theo những quy tắc, luật lệ của nền giáo dục thời phong kiến.

5. cảm hứng nhân văn qua trích đoạn

Cảm hứng nhân văn trong văn học có thể hiểu là tất cả những suy nghĩ, ý kiến, tình cảm của tác giả về những giá trị cao quý của con người. được lồng ghép và chuyển hóa qua các cụm từ đầy cảm xúc trong tác phẩm

– Cảm hứng nhân văn của “chị em thuỷ chung” được thể hiện qua cách Nguyễn du ca ngợi vẻ đẹp của hai chị em thuỷ chung. ông thể hiện sự trân trọng, đề cao giá trị và vẻ đẹp của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ không chỉ có nhan sắc xinh đẹp, tài năng, đức độ mà còn có ý thức sâu sắc về bản sắc riêng

– Cảm hứng nhân văn được thể hiện qua những điềm báo bất hạnh về cuộc đời của những con người kém may mắn, thân phận trong xã hội. Từ giọng điệu đến hình tượng thơ trong đoạn trích đều thể hiện sự trăn trở, dự báo của Nguyễn Du về số phận bấp bênh của người Việt Nam ở nước ngoài: kiếp tài hoa bạc mệnh.

= & gt; Qua bài thơ, ta cảm nhận được tấm lòng về cảm hứng sáng tạo của tác giả. từ đó thức tỉnh lòng yêu thương, trân trọng con người và sự cảm thông đối với những kiếp người “hồng nhan bạc phận”, bị xã hội áp bức đến cùng. đó cũng là cách mà nguyễn du thể hiện tấm lòng nhân ái sâu sắc, đầy cảm hứng nhân văn của mình qua những vần thơ đầy ý nghĩa.

iii. sơ đồ tinh thần của chị em thuy kiều

Để giúp các em hiểu rõ hơn nội dung phân tích đoạn trích Chị em thủy chung, dưới đây là sơ đồ tư duy để các em tham khảo.

so-do-tu-duy-chi-em-thuy-kieu

iv. tổng quan

1. đoạn trích nội dung

qua đoạn trích “Chị em thủy chung”, nguyễn du đã khắc họa rõ nét bức chân dung vẻ đẹp từ ngoại hình đến nhân phẩm của thủy chung, thủy chung. vẻ đẹp của hai chị em thuỷ chung và thuỷ chung cũng là vẻ đẹp chuẩn mực, lí tưởng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. đoạn trích không chỉ là lời ngợi ca vẻ đẹp, tài năng của con người mà còn là lời tiên đoán về số phận bấp bênh của đời người.

2. các biện pháp tu từ trong Chị em thủy chung

– ước lệ tượng trưng: dùng thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người giúp tăng sức gợi hình trong cách miêu tả nhân vật

– nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế: chân dung nhân vật được xây dựng đa dạng, linh hoạt và mỗi nhân vật đều có nét độc đáo, hấp dẫn riêng

– Cách sử dụng ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, kết hợp với từ ngữ độc đáo, cách chọn từ ngữ có giá trị gợi tả cao đã giúp truyền tải những ý nghĩa nhân văn trong đoạn trích đến khán giả và độc giả.

trên đây là nội dung tóm tắt chi tiết bàn về đoạn trích Chị em thủy chung trong tác phẩm Truyện kiều của nguyễn du. Ngoài đoạn trích trên, các em có thể tham khảo thêm các bài phân tích chi tiết khác về Soạn văn 9 để đảm bảo nắm chắc kiến ​​thức ngữ văn trước khi bước vào các kì thi quan trọng. . hocmai mong rằng nội dung trên sẽ giúp các bạn có những tiết ôn tập hiệu quả.

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn Học

Related Articles

Back to top button