6 bài văn Phân tích Tràng giang của nhà thơ Huy Cận, hay nhất

Bạn đang quan tâm đến 6 bài văn Phân tích Tràng giang của nhà thơ Huy Cận, hay nhất phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

phan tich trang giang huy can

thử nghiệm phân tích kết hợp

Bạn đang xem: Nghị luận tác phẩm tràng giang

mẹo phương pháp phân tích bài thơ và đoạn văn đạt điểm cao

i. sơ đồ phân tích trang giang (tiêu chuẩn)

1. giới thiệu:

giới thiệu tác giả, tác phẩm.

2. nội dung:

a. tiêu đề và lời bài hát:

– title “trang giang”:

+ là một từ Hán Việt có âm bội cổ, nghĩa là sông dài. + vần “ang” là một vần mở, có âm vang, có độ dài nối tiếp nhau, gợi lên hình ảnh một dòng sông có chiều rộng vừa phải.

– nhan đề bài thơ là “thở dài trời rộng nhớ sông dài”: gợi ra cảm xúc chủ đạo trong bài thơ là nỗi buồn man mác, chất chứa bao cảm xúc của con người khi đứng trước một dòng sông quá mênh mông. .

b. hình ảnh thiên nhiên của tác giả thật buồn, ảm đạm và cô đơn (khổ 1, 2, 3)

* khổ thơ 1:

– hình ảnh “trang giang” là dòng sông vừa rộng vừa dài, lòng sông rất êm đềm, sóng chỉ gợn nhẹ mang lại cảm giác êm đềm, hiu quạnh.- “buồn điệp điệp”:

<3 dòng sông trong bí mật, trong im lặng.

– hình ảnh “con thuyền xuôi theo dòng nước song song”:

+ gợi sự đơn độc, để cuộc sống trôi chảy. + hình ảnh tương phản với không gian bao la của dòng sông: gợi sự nhỏ bé, đơn độc.

– “Thuyền về quê đau thương”: chia ly, chia lìa, thiếu thốn tình thương, sầu bi. – “Vài dòng gỗ lạc cành khô”:

+ ngược: nhấn mạnh nỗi cô đơn, lẻ loi, vô định. + là tâm sự, nỗi niềm về thân phận, sự hoang mang, lạc lõng của tác giả trước thời cuộc.

* khổ thơ 2:

– “vần thơ cô đơn nhỏ”:

+ các từ lóng: “lười biếng”, “bị bỏ rơi”, “ngực trần” diễn tả trọn vẹn sự cô đơn, hoang vắng của cảnh vật. + đảo ngữ “thơ”: nhấn mạnh cảm giác lẻ loi. khô cằn, hoang vắng, lạnh lẽo.

– “tiếng người xa chợ chiều”: hiểu theo nhiều nghĩa

+ cách 1: câu hỏi mong tìm được âm thanh nhỏ nhoi của cuộc sống, tiếng người. + cách 2: tả âm thanh đâu đây vang lên trong buổi chợ chiều + cách 3: không, không, tiếng chợ buổi tối.

→ một trong hai cách, ý thơ thể hiện sự trống rỗng của không gian.

– “trời cao thăm thẳm”: khoảng cách mênh mông giữa trời và đất được diễn tả ấn tượng qua cụm từ “mênh mông sâu thẳm” gợi tả cả chiều cao và chiều sâu.- “sông dài, trời rộng, bến vắng”: cảnh sông nước. bao la, rộng lớn, bến tàu vắng vẻ vắng bóng người, lạnh lẽo, hoang vu và ảm đạm như chính nỗi lòng của chính tác giả.

* khổ thơ 3:

– “bạn đang đi hết hàng này đến hàng khác?”

+ câu hỏi, là nỗi đau đớn trước số phận, trước thời đại, khi bản thân không tìm được con đường đúng đắn, dù muốn thay đổi thế giới nhưng lại là hàng phòng ngự: tình cảnh chung của một thế hệ, một lớp người những người yêu nước.

– Nghệ thuật phủ định: “không thuyền”, “không cầu”: không gì gắn kết đôi bờ, nó thiếu dấu vết của sự sống, của bóng dáng con người.

c. lòng yêu nước, yêu nước sâu sắc (câu 4)

– hình ảnh thiên nhiên lúc chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng:

<3 bóng chiều.

– tính hài hước của nhân vật trữ tình:

<3 cần thiết đến mức không cần "khói hoàng hôn" mà lòng vẫn đong đầy nỗi nhớ da diết.

d. đánh giá

Xem thêm: Liên hệ so sánh bài Vợ chồng A Phủ

– Về nội dung: bài thơ hiện lên hình ảnh thiên nhiên buồn bã, hoang vắng, thể hiện nỗi cô đơn, tình yêu quê hương đất nước. – Về nghệ thuật:

<3

3. kết luận:

khẳng định giá trị tác phẩm, tài năng của tác giả.

& gt; & gt; xem dàn ý phân tích chi tiết bài thơ tại đây.

ii. bài văn mẫu phân tích bài thơ Tràng giang

1. Bài văn mẫu phân tích trang giang số 1 (chuẩn):

phong trào thơ mới đã ghi dấu tên tuổi của nhiều nhà thơ, trong đó có huy cận, một hồn thơ “đau thương và cổ hủ”. mỗi bài thơ của huy cận đều chứa đựng nỗi buồn thương, sầu muộn vô hạn của nhà thơ trước thời đại, trước xã hội mà mình đang sống. Đằng sau những nỗi đau ấy là tấm lòng của một người yêu nước. bài thơ trang giang là bài thơ tiêu biểu của hồn thơ phiêu bạt.

mở đầu tác phẩm là lời tựa “tiếc trời rộng, thương nhớ sông dài”, nhan đề chỉ vỏn vẹn bảy chữ nhưng đã bao hàm tất cả nội dung và ý tưởng nghệ thuật mà tác giả gửi gắm. đoạn thơ gợi lên nỗi buồn, sự lo lắng, khao khát của con người trước sân khấu rộng lớn, thăm thẳm. từ “tiếc” gợi cảm giác xót xa, nhớ nhung trong sâu thẳm trái tim nhà thơ, gợi mở những câu thơ sau để thể hiện mình một cách tự nhiên:

“Sóng cuộn qua sông nhắn buồn, thuyền chìm theo dòng nước, nhưng thuyền về nước buồn mất mấy dòng.”

câu thơ lặp lại nhan đề tác phẩm “trang giang”, vần “ang” được sử dụng tinh tế gợi không gian sông dài, biển rộng. hai tiếng “trang giang” càng vang lên một nỗi buồn chân thành. trên sông gợn sóng, dòng sông mang màu sắc của tâm trạng “buồn điệp điệp”. nỗi buồn của dòng sông cũng là nỗi buồn sâu kín trong tâm hồn nhân vật trữ tình, tính từ “buồn điệp điệp” khiến nỗi buồn thêm da diết, tầng tầng, lớp lớp, nối tiếp nhau bất tận. tưởng chừng nhẹ nhàng nhưng lại có sức nặng vô cùng, thấm đẫm và lan tỏa trong mỗi cảnh thức. nổi bật trong không gian dài, rộng, bao la là hình ảnh “con tàu trên nóc nhà”, con thuyền nhỏ bé lẻ loi trôi theo dòng nước, cứ tự nhiên trôi, trôi như chính bản thân nhà thơ cũng trống vắng, cô đơn. cuộc sống xô đẩy và trôi chảy.

“Tàu về quê buồn, vài dòng lạc một cành tàn.”

hình ảnh tương phản “đoàn thuyền lại về đồng” được tác giả sử dụng tinh tế kết hợp với chất thơ mới “mấy hàng củi, mấy dòng lạc lối” không chỉ làm cho câu thơ thêm uyển chuyển mà còn làm cho bài thơ gợi âm hưởng cổ kính. nghệ thuật đảo ngữ “cành củi khô” được đặt ở đầu câu nhấn mạnh sự cô đơn, lẻ loi, vô định, nhỏ nhoi, tầm thường. Phải chăng cây gậy khô ấy là ẩn dụ cho nhà thơ với cái tôi bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời của chính mình?

Cứ tưởng nỗi buồn đã qua, nhường chỗ cho niềm vui an ủi một chút. nhưng ở câu thơ thứ hai, nỗi buồn lớn hơn một chút, thấm sâu vào cảnh vật:

“Bỏ qua cồn nhỏ, gió điếc nơi xa tiếng thị phi, ghé chợ chiều

Cặp từ tượng hình “thong dong” “khoái lạc” gợi nỗi buồn, cô đơn, lẻ loi. Như một lẽ tự nhiên, không gian chợ gợi lên sự vui tươi, nhộn nhịp nhưng trong bài thơ, hình ảnh chợ lại hiện lên không thiếu sự ấm áp của cuộc sống, tiếng cười nói, buôn bán của người dân. mọi thứ dường như nằm trong im lặng tuyệt đối, không gian cũng như mở rộng về chiều sâu và chiều rộng:

“mặt trời thấp, trời cao, sông dài, trời rộng, bến vắng”

nghệ thuật tương phản kết hợp với biện pháp tu từ nhân hoá cho thấy chiều kích vô tận của không gian. “sâu chót vót” gợi lên sự sâu lắng và quyến rũ vô hạn. cảnh càng rộng hơn, cao hơn, sâu hơn, đơn độc hơn và buồn hơn. Sông dài nhưng bến vắng, nỗi buồn dường như mở rộng theo chiều không gian, thấm sâu theo từng nhịp thở.

phan tich trang giang cua huy can

hãy phân tích bài thơ Tràng giang để thấy được những cảm nhận của nhà thơ về cuộc đời và thời đại

nối tiếp mạch cảm xúc của hai khổ thơ trước, câu thơ thứ ba càng khắc sâu nỗi buồn tuyệt đối hơn:

“bạn đi đâu khỏi những dãy hàng dài bất tận mà không lướt qua một con thuyền không chút riêng tư, thong dong từ bờ biển xanh đến bãi biển vàng?”

hình ảnh của bèo tấm gợi ra sự vô định, trôi nổi. những cánh bèo bồng bềnh “hết hàng này đến hàng khác” không nơi bấu víu, không chốn quay về hay là ẩn dụ cho những kiếp người nhỏ bé, cô đơn và mất phương hướng lúc bấy giờ. sông bao la, dài rộng, không một bến phà qua lại, cầu không thấy tăm hơi, nên dù muốn dù không vẫn còn mong manh mối dây tình người. tất cả đều như đi ngược lại với lòng người, những con người cô đơn, những người khao khát sự cảm thông, thấu hiểu, sẻ chia, họ không có một chút tình yêu cuộc sống, tình người ở lại.

Khổ cuối của bài thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và nỗi buồn sâu thẳm của lòng người:

“Mây che núi bạc, chim nghiêng cánh, bóng chiều trong lòng ruộng lay động mặt nước không khói lúc chạng vạng cũng nhớ nhà.”

bầu trời với những đám mây trắng cao được phản chiếu dưới ánh sáng mặt trời của thiên nhiên trở nên đẹp đẽ với ánh bạc lấp lánh. động từ “đùn” thể hiện sự chuyển động mạnh mẽ của cảnh, những đám mây đùn lên phía chân trời tạo thành những dãy núi hùng vĩ, tráng lệ. giữa không trung có một chú chim nhỏ đơn độc lom khom trong bóng chiều u ám. hình ảnh tương phản giữa đôi cánh của chú chim nhỏ và vũ trụ bao la, hùng vĩ càng làm nổi bật thêm vẻ u buồn của thiên nhiên bao la, khoáng đạt.

Trước khung cảnh thiên nhiên ấy, nỗi nhớ quê hương trong lòng nhà thơ càng da diết, da diết:

“lòng quê hương khói sương chiều cũng nhớ nhà”. trong thơ, tang thi cũng viết:

“ngày mộ quan thiên hạ, ba bề cao nhân đau.”

thôi nhìn sóng biển và thấy nhớ nhà. ở “trang giang”, nỗi nhớ quê hương dường như thường trực, dai dẳng và da diết hơn bởi “không khói hoàng hôn ai cũng nhớ nhà”. Còn để làm gì, nỗi nhớ vẫn tiếp tục “xốn xang” trong lòng nhà thơ, là biểu hiện của tình yêu quê hương đất nước nói riêng và lòng yêu nước nói chung.

Với sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, bài thơ mang đậm chất thơ đường trường nhưng vẫn rất Việt Nam với những hình ảnh đan vào nhau như con thuyền trên nóc, đan lát lững lờ trôi, cành củi khô lạc giữa dòng. , ta có thể thấy một nỗi buồn bất tận của cái tôi lạc lõng giữa cuộc đời.

2. phân tích kiểm tra thoát, mô hình số 2 (tiêu chuẩn)

cu huy can (1919 – 2005), bút danh huy quan, là một trong những đại biểu tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới, đồng thời là nhà thơ có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ca chạy trốn thường mang một nỗi buồn bi thương vô tận bao trùm cả đất trời, mà người ta vẫn đùa rằng khi mang thai, chắc hẳn người mẹ đã phải rơi nhiều nước mắt vì đứa con sắp chào đời. Linh hồn. Tràng Giang là một trong những bài thơ xuất sắc của phong trào Thơ mới, đồng thời cũng là sáng tác tiêu biểu, xuất sắc nhất tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Hòang thời kỳ này. bài thơ nhuốm màu kinh điển của thơ tang, đồng thời mang nét thơ hiện đại, lãng mạn, thể hiện sâu sắc nỗi buồn, nỗi cô đơn, mất mát của con người trước thiên hạ khi chính tác giả bị liệt. viễn cảnh của một đất nước đau thương.

nhan đề “trang giang”, là một nhan đề hay khi gợi được không gian rộng lớn bằng cách lặp lại vần “ang”, tạo cảm giác âm hưởng ngân dài, thanh thoát, thoát tục của đất trời, đồng thời. có nhan đề Tiếng Việt cũng tạo cho tác phẩm một giọng điệu cổ kính, trầm lắng, chất chứa bao suy tư, nỗi buồn sâu lắng. nhan đề bài thơ “Thương hoài trời rộng sông dài” gợi cảm xúc chủ đạo trong bài thơ là nỗi buồn man mác, chất chứa bao cảm xúc của con người khi đối diện với bao la sông trời. ., nhưng con người như một hạt cát nhỏ, lạc lõng, không phòng bị, không biết đi về đâu, không biết sự tồn tại của mình trên cõi đời này có ý nghĩa gì. điều đó gợi cho ta nhớ đến hoàn cảnh đau thương của đất nước lúc bấy giờ, huy hầu như chỉ là một trí thức tiểu tư sản, nhưng trước đó, sự hoang mang trở nên bế tắc, không tìm được con đường sáng, đứng trước sông nước mênh mông. Anh càng cảm thấy cô đơn và lạc lõng. Điều đó rất đúng với câu nói “buồn thì chẳng vui bao giờ”, khi người xưa tìm về thiên nhiên để tìm sự đồng điệu, cảm thông, tìm về với thiên nhiên để bộc lộ những nỗi niềm sâu kín, mang đến cho người đọc sự mới lạ, hấp dẫn.

“Sóng lăn tăn sông buồn, thuyền chìm trong nước, thuyền về ruộng lòng buồn hiu quạnh, cành khô lạc mấy dòng”

Ở khổ thơ đầu, ta thấy hình ảnh một dòng sông buồn và ảm đạm, cũng là vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện rõ nét. hình ảnh “trang giang” có nghĩa là con sông vừa rộng vừa dài, tưởng chừng như trải dài đến vô tận nhưng lòng sông rất êm đềm, lòng sông rất rộng lớn nhưng sóng chỉ gợn nhẹ mang lại cảm giác thanh bình, hiu quạnh như cảnh “buồn nước” của han mac tu. không những thế, nỗi buồn còn được thể hiện trực tiếp và rõ ràng qua hai chữ “buồn điệp điệp”, tức là nỗi buồn man mác, chồng chất lên nhau trong từng gợn sóng của dòng sông một cách ẩn hiện. , trong im lặng, nó có vẻ yếu ớt nhưng thực ra nó rất sâu sắc.

phan tich trang giang cua huy can hay nhat

đầu các bài báo phân tích hay nhất

Xem thêm: 5 Tác Phẩm Piano Nổi Tiếng Của WA Mozart

hình ảnh “con thuyền xuôi theo dòng nước song song / con thuyền về bến nước lại buồn”, đó là cảnh gợi bao nỗi cô đơn, con đò qua lại bao lần nhưng không. chắc rằng con tàu đã từng hiểu là trái tim của sông, trái tim của nước. vốn dĩ thuyền – nước phản ứng, phối hợp với nhau, nhưng khi vào bài thơ, chúng dường như không đồng điệu, cứ song hành với nhau, rồi “thuyền lại xuôi ngược” gợi chia ly. , khoảng cách, lắng nghe. tiêu điều, buồn bã. vả lại, mỗi con thuyền ấy đều vướng vào bao nỗi niềm, và dường như nó cũng mang theo nỗi niềm mênh mang của con người, của cảnh quay trăm phương, không dừng lại chờ đợi.

câu cuối cùng của đoạn văn “củi khô vài dòng mất đi”, là tâm sự, là nỗi niềm, là thân phận của tác giả. giữa mênh mông sóng nước ấy, chỉ còn lại một cành củi khô trơ trọi, trơ trọi, không biết trôi về đâu. cũng như anh ta chạy trốn gần mình, hoang mang, lạc lõng trước thời cuộc, không có tiếng nói và tầm ảnh hưởng, không biết sau này vận mệnh nào sẽ đưa đẩy mình, đất nước sẽ ra sao, bất lực và trì trệ. Bên cạnh vẻ đẹp hiện đại khi tác giả khéo léo bộc lộ cái tôi và nỗi buồn cá nhân trước thế sự, vẻ đẹp cổ điển còn đậm nét với những điệp từ, điệp ngữ, song thất lục bát. Tiếng Việt “buồn”, “trang giang”. mang đến cho hình ảnh thiên nhiên vẻ đẹp cổ kính và trầm buồn.

“lơ thơ gió nhỏ nơi tiếng phố chợ xa, nắng thấp, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến vắng hiu quạnh. “

Ở khổ thơ thứ hai, cảnh sông nước mênh mông đã được thay thế bằng cảnh khác, không gian hẹp hơn nhưng dường như nỗi buồn càng dày đặc, bao trùm lên từng cảnh vật. Huy tiếp tục sử dụng lối thư pháp quen thuộc trong tang thi bằng cách sử dụng các vần liên tiếp “thơ”, “duyên”, “nâng”, thể hiện trọn vẹn sự cô đơn, hoang vắng của đối tượng. trong câu “cồn cát nhỏ”, rõ ràng cồn cát tuy nhỏ nhưng lại lác đác, lác đác, dường như chẳng có mối liên hệ nào, thêm vào đó là cơn gió chiều nhè nhẹ lướt qua khiến cảnh vật càng thêm hiu quạnh, buồn .

giữa khung cảnh hiu quạnh và hãi hùng ấy, họ chạy trốn không khỏi thốt lên “tiếng người xa chợ chiều còn đâu?”, mong tìm được một âm thanh nhỏ bé của cuộc đời, tiếng lòng người. , dù là nhỏ nhất cũng chỉ để xua đi nỗi cô đơn, trống trải đang bủa vây. thay đổi một góc nhìn khác, tiếng chợ chiều của phố xa ấy càng làm nổi bật thêm sự hiu quạnh, hiu quạnh của không gian sông nước, khi một tiếng chợ xa cũng trở nên trong tai người lữ khách ven sông. bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy khung cảnh thiên nhiên và lòng người hiu quạnh, hoang vắng đến nhường nào.

Khi nói đến câu “mặt trời từ trên cao xuống sâu thăm thẳm”, ta dễ dàng liên tưởng đến khoảng cách mênh mông giữa trời và đất, câu thơ như trải dài ra xa tít tắp trong không gian. Từ ngữ “mênh mông thăm thẳm” là không hợp lý khi đưa vào để miêu tả độ cao của trời xanh, nhưng ở trang giang, chỉ những từ ngữ này mới có thể miêu tả sâu sắc khoảng cách giữa trời và đất, làm nổi bật vẻ đẹp của bầu trời và sự nhỏ bé của khuôn mặt con người. vũ trụ bao la. và bỏ lại tiếng chợ chiều, huy cận lại chỉ nhìn cảnh “sông dài, trời rộng, bến vắng”, cảnh sông dài mênh mông, bến vắng vắng bóng một bóng người lạnh lùng, vắng vẻ, hoang vắng. như chính tấm lòng của tác giả.

“Bạn đi đâu khỏi những dãy hàng dài bất tận mà không qua phà mà không đòi hỏi một chút riêng tư, lặng lẽ từ bờ biển xanh đến bãi biển vàng?”

khổ thơ thứ ba bộc lộ rõ ​​hơn tình cảm và hoàn cảnh của tác giả, sông nước mênh mông, trời cao, đất xa dần được thu lại bằng hình ảnh “nơi dòng rút”. beo là hình ảnh quen thuộc trong văn học cổ điển, ám chỉ kiếp người trôi nổi, vô định, mặc cho dòng đời xô đẩy thì trong thơ ca, hình ảnh “em trôi về đâu” là một câu hỏi. , đó là nỗi đau của số phận, trước những thời thế mà bản thân không tìm được cho mình một hướng đi đúng đắn, dù muốn thay đổi hoàn cảnh nhưng cũng đành bất lực. hai chữ “hàng này sang hàng khác” là nét đẹp của chữ Huy gần gũi trong thơ ca, cho thấy số phận nghèo khó như ông trong xã hội bấy giờ không hiếm, mà là tình cảnh chung của cả một thế hệ, một lớp người mà họ thương yêu nhau. có trái tim nhưng không có sức mạnh, trì trệ và buồn vô cùng.

sang câu thơ tiếp theo “rộng không có tàu qua” không chỉ để bộc lộ cảnh hoang vắng, hiu quạnh của dòng sông, bộc lộ nỗi cô đơn trong lòng mà còn bộc lộ hiện thực nơi đất khách. thời tiết. giữa bóng tối ấy, người lữ khách muốn tìm cho mình một con tàu, một ngọn lửa sáng để cùng nhau đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng ngoảnh lại, dòng sông êm đềm, “không một con tàu qua”, không một tổ chức nào có thể dẫn dắt. con đường, để đưa những trí thức tiểu tư sản như tôi chạy trốn khỏi sự hoang mang và không chắc chắn. thực tế đó khiến người ta xót xa cho một đất nước, một dân tộc, thậm chí cả những con người lạc loài “không hỏi riêng tư”, cuối cùng vẫn phải ôm nỗi cô đơn, buồn tủi giữa thiên nhiên mênh mông u ám ”trong im lìm xanh biếc. bờ gặp bãi vàng “, nhưng không có cảnh khác, không có người khác.

“lớp mây cao đùn núi bạc, chim cánh nhỏ: bóng đêm. lòng ruộng nhân hậu, không khói chiều hoàng hôn cũng khao khát.”

Ở khổ thơ cuối, vẻ đẹp cổ điển, lãng mạn trong sáng tác của Huệ Năng càng được thể hiện rõ nét hơn trong khung cảnh thiên nhiên bao la, hùng vĩ cùng với chất thơ quen thuộc trong Đường Thi. . là nét cổ điển với phong cách phá cách “tầng mây cao đùn núi bạc”, mây cuộn quanh núi từng lớp dày đặc, hùng vỹ với từ “đùn” khiến núi trắng xóa. ngà voi. dưới ánh nắng, những ngọn núi ấy như được dát bạc tạo nên cảnh tượng hùng vĩ hiếm có, đồng thời thể hiện sự sáng tạo trong thơ của tác giả, với những liên tưởng thú vị. và trong khung cảnh tráng lệ ấy xuất hiện một chú chim nhỏ lạc lõng “chim có đôi cánh nhỏ: bóng hoàng hôn”, là loài chim nghiêng cánh để bóng hoàng hôn lặn xuống bao trùm cả không gian, hay bóng hoàng hôn buông xuống. . con chim nhỏ, chập chờn, đầy cô đơn.

Có thể nói, hình ảnh cánh chim luôn là câu thơ quen thuộc trong thơ ca cổ điển, là dấu hiệu của hoàng hôn, chiều tà, mang đến cho con người những nỗi buồn, những bất trắc trong cuộc sống. thấy một điểm dừng nhất định.

hai dòng cuối tuy vẫn sử dụng chất liệu thơ cổ nhưng nội dung thơ mang đậm tính hiện đại, bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ quê hương chân thành của tác giả. “Lòng quê thủy chung / hoàng hôn không khói hương mong”, trước khung cảnh bao la, hùng vĩ ấy nhưng bản thân nhà thơ lại cảm thấy cô đơn, không có được chốn dung thân cho tâm hồn mình yên nghỉ. Đối diện với những nỗi buồn bất trắc, gần gũi đến nao lòng, anh không khỏi nhớ nhà, quê hương nơi anh sinh ra, mang đến cho người lữ khách hơi ấm của tình yêu thương, xoa dịu nỗi cô đơn, cay đắng trong lòng. nỗi nhớ ấy da diết đến nỗi chẳng cần đến “khói chiều”, ánh sáng từ bếp lửa bữa cơm chiều mà lòng vẫn đong đầy nỗi nhớ da diết. Vì vậy, mở rộng nỗi nhớ quê hương da diết của Huian, xuất hiện khi tác giả bước chân lên quê hương, chúng ta hiểu rằng nỗi nhớ quê hương là lòng yêu nước thầm kín của những ngày tháng trôi qua, khi đất nước còn thanh bình và tươi đẹp. , khác hẳn với thực tế đáng buồn. nhưng đối mặt với cảnh đó, anh chỉ biết bất lực trước sóng gió, vướng vào bế tắc tâm hồn với những nỗi buồn bất định, nghe thật xúc động.

hồn thơ của cuộc chạy trốn là một nhà thơ giỏi và thích ứng với thời đại. Trước cách mạng tháng Tám với tư cách là một trí thức tiểu tư sản, ông thường bày tỏ nỗi buồn trong các sáng tác của mình. hoàn cảnh hiện tại, sự bất lực trước sự đổi thay của thời cuộc, cũng như tình cảnh đau thương của đất nước, thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc. tất cả những tâm tư tình cảm ấy đều được thể hiện rõ nét trong bài thơ bằng một phong cách thơ vừa cổ điển vừa hiện đại, kết hợp với sức ám ảnh sâu lắng về không gian rộng lớn, hùng vĩ đã tạo nên một tác phẩm xuất sắc để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc về nền thơ ca Việt Nam trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.

3. phân tích bài thơ chạy trốn của nhà thơ, văn mẫu số 3 (chuẩn)

hụi gần là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới với một “hồn thơ hư ảo”. Những bài thơ của Flee luôn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bởi khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, rộng lớn và luôn thấm đẫm nỗi buồn. bài thơ “Tràng giang” in trong tập “Lửa thiêng” là một trong những sáng tác tiêu biểu của hồn thơ hồn phách.

“trang giang” để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc ngay từ nhan đề, nhan đề bài thơ. tên bài thơ là một từ Hán Việt có âm bội cổ, nghĩa là sông dài. nhưng đặc biệt ở chỗ, tác giả không dùng “giang” mà dùng “giang” bằng hai vần “ang” – hai vần mở, có độ vang và độ dài liên tiếp, gợi lên trong cảm nhận của người đọc một dòng sông vừa dài vừa rộng. Ngoài ra, câu thơ chủ đề của tác phẩm “chiếu trời rộng, nhớ sông dài” cũng đã tóm tắt một cách ngắn gọn, đầy đủ cái tình và cảnh trong bài thơ là hình ảnh thiên nhiên với trời rộng, sông dài và Cảm xúc bao trùm cả bài thơ là nỗi nhớ nhung, u uất, buồn đau dường như lan tỏa trong từng cảnh vật.

phan tich trang giang cua huy can ngan gon

bài luận phân tích về các bài thơ được chọn

từ nhan đề và câu thơ, khổ thơ đầu mở ra không gian sông nước bao la. dòng mở đầu của khổ thơ đầu tiên mở ra hình ảnh sông nước mênh mông.

những con sóng đau đớn

Dường như con sông dài “trang giang” nay như trải dài thêm với từng đợt sóng “trùng điệp” vỗ vào bờ không ngừng, không ngừng. những con sóng ấy như trải dài đến vô tận, làm nổi bật cả không gian bao la, rộng lớn của dòng sông. rồi trên nền sông mênh mông ấy, hình ảnh con thuyền hiện lên thật nhỏ bé, hệt như “xuôi theo mái nhà song song”. sự đối lập giữa không gian bao la của dòng sông với hình ảnh chiếc thuyền nhỏ gợi lên sự cô đơn, lẻ loi. Đặc biệt, khổ thơ đầu còn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bởi hai dòng cuối của khổ thơ.

con tàu trên đường về quê buồn, mấy dòng lạc mất một cành tàn

Từ xưa đến nay, tàu và nước là hai hình ảnh luôn song hành cùng nhau, nhưng ở đây dường như tàu và nước có một cuộc chia ly buồn chờ đợi. có lẽ vì vậy mà khung cảnh ấy khiến lòng người “buồn trăm ngả”. đặc biệt là giữa khung cảnh sông nước mênh mông này, hình ảnh “mấy hàng củi, cành tàn” gợi lên trong lòng người đọc nỗi ám ảnh khôn nguôi về vương quốc của loài người, lạc lõng, không thể tự vệ mà không biết rằng nó sẽ trở về nhà. .đâu bởi hàng trăm dòng dài vô tận. như vậy, ở khổ thơ đầu, ví dòng sông như dòng đời bất tận, thì hình ảnh con thuyền và cành củi khô lại là hình ảnh tượng trưng cho kiếp người nhỏ bé, vô định. đồng thời khổ thơ cũng gợi lên nỗi buồn khôn nguôi của tác giả.

nếu ở khổ thơ đầu, tác giả vẽ ra một không gian cồn cát mênh mông thì ở khổ thơ thứ hai, tác giả lại mở ra không gian nơi cồn cát nhỏ bé. hai dòng đầu của khổ thơ thứ hai vẽ nên một không gian hoang vắng và hiu quạnh.

thơ nghiêng mình trong cồn nhỏ, gió điếc nơi tiếng phố thị xa chợ chiều

Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ và những từ lóng đặc biệt giàu sức gợi “nên thơ”, “hữu tình”, tác giả đã vẽ nên một bức tranh nơi cồn nhỏ hiếm hoi, hoang vắng, lạnh lẽo và gợi một nỗi buồn mênh mang. Hơn nữa, không gian hoang vắng, vắng lặng của không gian dường như càng được tô đậm thêm qua bài thơ “Tiếng ai xa chợ chiều”. có thể nói đây là một câu thơ có nhiều cách diễn giải, “đâu có đâu” là phủ nhận tiếng chợ chiều hay đâu đó gợi tiếng chợ chiều mờ ảo. nhưng có lẽ hiểu bao nhiêu thì câu thơ vẫn gợi lên trong lòng người đọc nỗi buồn man mác, điêu tàn, điêu tàn, thiếu thốn tình người. Nếu hai dòng đầu của khổ thơ thứ hai gợi lên một không gian nhỏ bé tịch mịch thì ở dòng ba và bốn không gian ấy dường như mở rộng ra cả bốn phía, khiến cho khung cảnh vốn đã vắng vẻ nay lại càng thêm hiu quạnh, tĩnh mịch.

mặt trời lặn, bầu trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến tàu hiu quạnh

Trong hai câu thơ, tác giả sử dụng “cao chót vót” thay cho “cao ngất ngưởng” vì từ “sâu” không chỉ tả cảnh mà còn gợi tình, nó không chỉ gợi không gian rộng lớn, thăm thẳm mà còn gợi nỗi buồn man mác. và sự cô đơn của lòng người trước sự mênh mông, hoang vắng của cảnh vật.

như vậy, ở hai khổ thơ đầu, nỗi buồn của nhà thơ dường như bao trùm lên từng cảnh vật, trong một không gian bao la, rộng lớn. để rồi ở khổ thơ thứ ba, tác giả trở về với không gian sông nước với khung cảnh mênh mông, hiu quạnh, vắng bóng người.

em đi đâu đây, hàng dài vô tận không bến phà qua lại, không đòi hỏi một chút riêng tư, lặng lẽ bờ xanh tiếp chữ vàng

hình ảnh “nơi dòng rút” một lần nữa gợi lên trong người đọc hình ảnh kiếp người, vương quốc của con người trôi nổi, không biết đi đâu, về đâu. hơn nữa, khổ thơ với việc sử dụng nghệ thuật phủ định lặp lại càng nhấn mạnh sự cô đơn, vô hồn của cảnh vật. Thông thường, chúng ta thường thấy con tàu và cây cầu là phương tiện, hình ảnh thể hiện sự giao lưu, kết nối giữa con người với con người, giữa vùng đất này với vùng đất khác, nhưng ở đây “không bến đò”, “phi cầu”. dường như ở đây không có gì nối đôi bờ lại với nhau, nó thiếu dấu vết của sự sống, của những bóng người và hơn hết là tình người, sự hòa hợp, thân thiết giữa con người với con người với nhau. có lẽ vì vậy mà hai bờ sông có thể đi mãi mà chẳng bao giờ gặp nhau, chỉ có nơi đây những bờ xanh, những bãi vàng nối tiếp nhau, một hình ảnh đẹp mà êm đềm, êm đềm. buồn quá.

Nếu ở ba khổ thơ trước, tác giả vẽ nên một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, hoang vắng với nỗi buồn cô đơn thì ở khổ thơ cuối, tác giả đã đưa thêm một giọng điệu của thiên nhiên vào bức tranh ấy. màu sắc mới và ẩn sau là của tác giả. Nỗi nhớ quê hương da diết.

những tầng mây cao đưa những ngọn núi bàng bạc, những cánh chim nhỏ: bóng cánh đồng chuyển động theo làn nước không khói, hoàng hôn cũng gợi nhớ quê nhà

hai dòng đầu của khổ thơ cuối vẽ nên bức tranh thiên nhiên lúc chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng. hình ảnh từng lớp từng lớp mây trắng “bật ra” trong nắng chiều như tạo nên những ngọn núi bàng bạc. dường như chỉ với một câu thơ nhưng tác giả đã tạo nên một hình ảnh thật đẹp. để rồi trên nền thiên nhiên hùng vĩ ấy, hình ảnh cánh chim hiện ra như tia sáng ấm áp cho cảnh vật nhưng vẫn không làm vơi đi nỗi buồn trong sâu thẳm tâm hồn nhà thơ. dường như sự đối lập giữa sự nhỏ bé của cánh chim chiều với sự bao la, hùng vĩ của “tầng mây cao” khiến không gian như rộng lớn hơn và cũng làm tăng thêm nỗi buồn, nỗi cô đơn của nhà thơ. để rồi trước không gian ấy, lòng nhà thơ hiện lên một niềm khao khát thiết tha, thiết tha với quê hương đất nước. hình ảnh “con nước nổi” không chỉ tượng trưng cho những con sóng vỗ về phương xa mà còn gợi cho nhà thơ cảm giác nhớ nhung vô tận: nỗi buồn của người xa xứ vô cùng nhớ quê hương. Đặc biệt, câu thơ kinh điển khép lại bài thơ một cách chân thực và rõ nét nhất nỗi nhớ quê hương của nhà thơ, và tinh thần đó cũng là nỗi niềm chung của tầng lớp tiểu tư sản thời bấy giờ.

Tóm lại, “trang giang” của Huian với sự kết hợp giữa màu sắc cổ điển và hiện đại cùng những hình ảnh thơ độc đáo đã gợi lên trong ta nỗi buồn, nỗi cô đơn của một cái tôi trước cảnh thiên nhiên bao la, rộng lớn và hơn hết là tấm lòng son sắt đối với quê hương, đất nước. Đọc bài thơ giúp ta hiểu vì sao xuân khảo đã từng đánh giá “Tràng giang là bài thơ hát non sông đất nước, soi đường cho tình yêu quê hương đất nước”.

xem thêm

4. phân tích khảo nghiệm, mẫu số 4 (tiêu chuẩn)

vì vậy, chúng tôi đề nghị phân tích bài học tiếp theo , bạn chuẩn bị soạn bài và cùng với phần này. phân tích bài thơ Bên kia sông du . strong> để hiểu rõ hơn về các tác phẩm văn học.

Xem thêm: Tổng hợp mở bài về tác phẩm Vợ Nhặt hay nhất – Trường THPT Số 2 Đức Phổ

                       

Vậy là đến đây bài viết về 6 bài văn Phân tích Tràng giang của nhà thơ Huy Cận, hay nhất đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Back to top button