Phân tích Chị em Thúy Kiều hay nhất (20 mẫu) – Văn 9

Giới thiệu tác phẩm chị em thúy kiều

Đoạn trích chị em Thủy Kiều được đặt ở đầu câu chuyện của Nguyễn Du Kiều, đã khắc họa thành công vẻ đẹp và tài năng của hai chị em Thủy Kiều. với 20 bài văn Nhìn chị em Thủy Kiều sẽ giúp các em học sinh lớp 9 hiểu sâu hơn.

hai chị em thủy kiều, thủy chung đều mang vẻ đẹp quý phái, mỗi người một vẻ đẹp riêng, nhưng mỗi người một vẻ đẹp lại mười phân vẹn mười. Vì vậy, mời các bạn tải miễn phí 20 bài văn phân tích chị em thủy chung để chuẩn bị tốt môn ngữ văn lớp 9 và ôn thi vào lớp 10 hiệu quả.

phân tích khái quát đoạn trích Chị em thủy chung

sơ đồ chi tiết số 1

i. mở đầu

  • lời giới thiệu của tác giả Nguyễn Du (đại thi hào, danh nhân văn hoá thế giới).
  • Truyện Kiều là một tác phẩm gây được tiếng vang và trở thành kiệt tác của nền văn học Việt Nam. .
  • đoạn trích Chị em thủy chung không chỉ thể hiện vẻ đẹp của những trang xinh đẹp tuyệt trần mà còn thể hiện tài năng nhập vai bậc thầy của Nguyễn Du.

ii. nội dung bài đăng

1. tổng quan về vấn đề

  • miêu tả nhân vật, khắc hoạ tính cách và số phận con người là tài năng của Nguyễn Du, đây là thành công lớn của ông.
  • miêu tả nhân vật chính: dùng ngòi bút để lí tưởng hoá nhân vật. đại diện cho nhân vật phản diện: ngòi bút hiện thực. đoạn trích hai chị em Thủy kiều có vẻ đẹp hoàn hảo theo tiêu chuẩn Châu Á là hai chị em Vân và Kiều.

2. phân tích vẻ đẹp của thùy văn (4 câu)

– thoạt đầu, nguyễn du gợi vẻ đẹp của chị em thủy chung từ những hình ảnh thiên nhiên: mai, tuyết. lối viết thông thường gợi lên ấn tượng về vẻ đẹp với tính cách hoa mai, thanh tao và thuần khiết như tuyết

– bốn câu thơ gợi tả vẻ đẹp của thùy văn: thanh cao, tao nhã, trong sáng.

  • câu thơ “không phân biệt trang trọng” đã nói lên vẻ đẹp thanh cao, quý phái của nàng.
  • vẻ đẹp của nàng được so sánh với những gì đẹp đẽ nhất trong thiên nhiên chẳng hạn như thiên nhiên. hoa, mây trắng, tuyết, ngọc.
  • chân dung thủy mặc đẹp về khuôn mặt, nụ cười, mái tóc, làn da, với phong thái điềm đạm (những chi tiết so sánh, ẩn dụ thú vị trong thơ).

→ vẻ đẹp của bạn vượt qua mọi tiêu chuẩn của tạo hóa, khiến thiên nhiên phải cúi đầu ‘chịu thua’, ‘chịu thua’ thì cuộc đời bạn chắc chắn sẽ bình yên, không có sóng gió.

3. phân tích vẻ đẹp của thủy kiều (12 câu tiếp theo)

– tác giả miêu tả vẻ đẹp mê hồn trước để làm nổi bật vẻ đẹp mê hồn:

  • Kiều càng sắc sảo mặn mà: vẻ đẹp mặn mà trong tâm hồn, sắc sảo trong tâm hồn.
  • tác giả sử dụng những hình ảnh ước lệ tượng trưng: thu thủy, xuân sắc để miêu tả cụ thể của kiều. sáng ngời, đôi mắt long lanh.
  • thủy kiều gợi lên một trang mỹ nhân tuyệt sắc với vẻ đẹp khiến thiên nhiên phải ghen tị, đố kỵ: hoa ghen, liễu hờn.
  • tài sắc de thuy kiều vươn tầm mức độ lý tưởng theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến: chơi, chơi, thử, sơn.
  • nhấn mạnh tài năng của ông, đặc biệt là điềm báo đặc biệt về mệnh bạc (mệnh trời đã bạc lại càng không não) là tiếng nói của một trái tim đa sầu đa cảm.

– nguyen du trước tiên mô tả thủy văn và sau đó mô tả thủy kiều, kỹ thuật đòn bẩy này làm nổi bật vẻ đẹp của thủy kiều.

– Sử dụng khéo léo các tính từ gợi tả vẻ đẹp của văn, kiều (vẻ đẹp có số phận): mặn mà, trang trọng, sắc sảo …

– Các biện pháp so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, đối xứng, liệt kê, tăng tiến, điển cố … được sử dụng linh hoạt trong đoạn trích.

→ ước lệ tượng trưng là một cách thể hiện con người quen thuộc trong thơ ca trung đại (được mô tả thông qua các công thức và tiêu chuẩn hiện có được sử dụng một cách quy ước trong nghệ thuật)

iii. kết thúc

  • Đoạn trích thể hiện rõ nét chân dung của chị em thuỷ chung nhờ những ước lệ, sức ảnh hưởng và phép tu từ mang tính biểu tượng.
  • nguyễn du thể hiện cảm hứng nhân văn thông qua việc đề cao con người, ngợi ca vẻ đẹp và tài năng của con người và báo trước số phận của những người tài giỏi.

sơ đồ chi tiết số 2

i. mở đầu

giới thiệu đoạn trích “chị thủy kiều”:

nguyễn du là nhà thơ lớn của dân tộc, ông đã viết những vần thơ thể hiện thân phận đau khổ, khốn cùng của con người và đặc biệt là người phụ nữ. tấm lòng nhân đạo của ông đã thể hiện sâu sắc qua các bài thơ và sâu sắc hơn qua các vở kịch ngoại truyện. vở kịch nói về một nhân vật tài sắc vẹn toàn nhưng hy sinh vì đạo hiếu. và vẻ đẹp sâu sắc của thủy chung được thể hiện trong đoạn trích Chị em thủy chung.

ii. nội dung bài đăng

1. đoạn trích chị em thuy kiều

  • nằm trong đoạn mở đầu của “kieu kieu”

    2. vẻ đẹp chung của hai chị em Thủy Kiều

    • hai chị em đều mang một vẻ đẹp quý phái, tính cách và sự hoàn hảo mà tác giả phải thốt lên “mười phân vẹn mười”.
    • nhưng trong nét đẹp chung đó thì mỗi người một vẻ đẹp riêng, mỗi người một vẻ. nó rất rõ ràng.

    3. vẻ đẹp độc đáo của hai chị em

    * thuy go:

    <3

    – Vẻ đẹp của Thùy Vân được so sánh với nhiều bức ảnh:

    • “khuôn mặt trăng tròn”: gợi ý khuôn mặt đầy đặn, hạnh phúc.
    • “khuôn mặt trăng tròn”: gợi ý lông mày đậm hơn một chút.

    = & gt; vẻ đẹp dịu dàng và nhân hậu của thủy vân.

    • “hoa cười trang nghiêm”: gợi giọng nói, nụ cười e thẹn, dịu dàng với dáng vẻ trang nghiêm.
    • “mây rụng tóc, tuyết rơi màu da. ”- vẻ đẹp của mái tóc, làn da cũng khiến thiên nhiên phải nhường nhịn.

    * thuy kieu:

    – nhận xét chung: “Kiều càng sắc sảo mặn mà / so tài thì hơn”. do đó vẻ đẹp của thủy kiều nổi bật hơn so với thủy văn.

    – ngoại hình:

    • “mùa thu”: nước mùa thu, “xuân sơn”: nét núi mùa xuân – dùng để chỉ vẻ đẹp của đôi mắt trong như nước mùa thu và đôi lông mày duyên dáng như nét của núi mùa xuân.
    • hoa ghen tàn, liễu kém xanh: vẻ đẹp của kiều cũng khiến thiên nhiên phải ghen “ghen” – “hận”. nó giống như một điềm báo về một cuộc đời đầy khó khăn.
    • “rẽ nước sang một bên”: vẻ đẹp rực rỡ của người phụ nữ có thể làm đảo lộn cả đất nước.

    – tài năng:

    • “nhan sắc cần có một, tài năng cần có hai”: sắc đẹp và tài năng khó ai sánh bằng.
    • “bẩm sinh thông minh”: người phụ nữ thông minh, hiểu biết rộng rãi
    • “hòa âm phối khí”: sành nhạc, thơ

    – hai câu cuối: tả tiếng đàn thủy chung “bạc mệnh trời lại càng não tàn” – tiếng lòng đa sầu đa cảm.

    4. nghệ thuật

    • mô tả tượng trưng thông thường.
    • nghệ thuật đòn bẩy độc đáo của tác giả.

    iii. kết thúc

    • Nêu suy nghĩ của anh / chị về đoạn trích chị em Thủy Kiều.
    • Đoạn trích “chị em Thủy Kiều” làm nổi bật vẻ đẹp và tài năng của hai chị em. Nó khiến chúng ta cảm thấy một vẻ đẹp hoàn hảo đến mức đáng ngưỡng mộ.

    phân tích sơ lược về chị em Thủy kiều

    nguyễn du là thiên tài thơ văn của dân tộc ta. Truyện Kiều là một kiệt tác của Nguyễn Du và nền thơ ca cổ điển của dân tộc, sáng ngời tinh thần nhân đạo. ngay cả về nghệ thuật, bài thơ là một mẫu mực xuất sắc về ngôn ngữ, tả cảnh, tả người, tả tình, tự sự, v.v … đoạn trích “chị thủy kiều” là một trong những áng văn hay của nhà thơ nguyễn du. Mượn vật tượng trưng cho con người, lấy ý tưởng làm hình vẽ quả thật là một sức mạnh phi thường trong ngòi bút của thiên tài Nguyễn Du.

    đoạn trích “chị em thủy chung” là một trong những bài thơ hay và hay nhất trong “truyện Kiều”. Thủy kiều là nhân vật trung tâm của bài thơ, một thiếu nữ xinh đẹp, tài năng đã được nhà thơ khắc họa một cách duyên dáng và xinh đẹp.

    hai chị em thủy chung mang vẻ đẹp cao quý, trinh nguyên như “mai”, như “tuyết”, mỗi người một vẻ đẹp riêng, nhưng vẻ đẹp nào cũng vẹn toàn, vẹn toàn:

    “xương cốt, tuyết tinh. Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.”

    sau vẻ đẹp của hai chị em, nguyễn du vẽ lên trước mắt độc giả một bức tranh thủy mặc thật đẹp:

    van trông khác trang nghiêm, trăng tròn, nở rộ. nụ cười của cô ấy nở. hoa cười, ngọc lan, trang nghiêm, mây rụng tóc, tuyết nhường màu da.

    <3 Rất quý phái, nàng có khuôn mặt "đầy đặn", sáng như trăng, mắt phượng, mày ngài, miệng cười như hoa, giọng nói trong như ngọc, … cũng như tóc mềm hơn mây, tuyết- Da trắng. là một vẻ đẹp hiếm có.

    nhà thơ đã sử dụng những ước lệ tượng trưng và lễ nghi để tạo nên những hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi. Chân dung thủy chung hiện lên thanh cao, trong sáng, gần gũi với con mắt và trí tưởng tượng. vẻ đẹp ấy hòa cùng thiên hạ khiến vạn vật phải tôn vinh, ngưỡng mộ. Với cách miêu tả đó, Nguyễn Du đã ngầm dự báo rằng Thuý Vân sẽ có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc.

    không có gì dài dòng, ngay sau đây tác giả miêu tả vẻ đẹp của thủy kiều. ánh sáng tỏa sáng, vũ trụ hân hoan khi từng đường nét đẹp đẽ hiện ra trong ngòi bút của một thiên tài:

    kiều diễm càng thêm mặn mà, so với bề ngoài tài hoa còn hơn. mùa thu nước, xuân sơn, hoa ghen, liễu ít xanh.

    miêu tả thủy chung, tả thủy chung sau là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Trên nền vẻ đẹp của phong vân, thủy kiều toát lên vẻ lộng lẫy có thể làm nghiêng ngả kinh thành. Khác với Bức chân dung Thúy Vân, trong Bức chân dung Thúy Kiều, Nguyễn Du chỉ khắc họa hai nét. đôi mắt trong veo như làn nước mùa thu, lông mày thanh tú, đẹp như hình núi mùa xuân. chỉ có hai cái, nhưng nó lại thể hiện vẻ đẹp khác thường của nó, thật là kỳ lạ.

    Nàng là một người đẹp vừa dịu dàng vừa sắc sảo, mặn mà, đầy nội lực để tồn tại. đằng sau vẻ đẹp trang trọng ẩn chứa một nguồn sức mạnh bí ẩn, quyến rũ và mê hoặc đến mức điên cuồng. chính vì vậy, vẻ đẹp của thủy chung đã khiến trời đất phải “ghen tị”, phải “ghét cay ghét đắng”.

    ở đây, lối viết của nhà thơ có nhiều thay đổi. sự kết hợp kì diệu của các ẩn dụ nhân hoá, cách sử dụng tinh tế và hiệu quả các chất liệu thơ cổ điển tạo nên một sức biểu cảm hiếm có. cao hơn thế, nhà thơ đã mạnh miệng khẳng định: “khéo phải đòi một, tài phải vẽ hai”. nghĩa là, nếu sắc đẹp của thủy chung hiếm có, thì tài năng và năng lực của nàng là vô tiền khoáng hậu, chưa từng xuất hiện trên đời này. Phải chăng thủy sinh được dự báo trước sẽ gặp nhiều gian khổ và tai ương do những phẩm chất và khả năng phi thường của nó?

    sau những bức chân dung tuyệt vời của hai đại mỹ nhân, nguyễn du dành nhiều thời gian hơn để miêu tả tài năng của thủy kiều:

    bản chất thông minh bẩm sinh, hỗn đản sơn hào hải vị, múa hát trình độ ngũ âm, nghề nghiệp của chính mình, ăn một khúc nhạc. tay hắn chọn chương, một hồi “bạc mệnh”. nhiều lõi não hơn.

    trước hết, anh ấy là một người rất thông minh. Sở hữu cả nhan sắc nổi bật và trí thông minh tuyệt đỉnh, người như vậy quả thực hiếm có. có lẽ nguyen du đã quá yêu thích nhân vật của mình? cô ấy quen thuộc với tất cả các sở thích của người xưa và thậm chí đã đạt được tài năng tuyệt vời. đàn, thi, thi, họa, âm luật, thi luật, ngay cả nghệ thuật ông đều am hiểu. một người như vậy, ai mà không đam mê. Chân dung của thuy kiều đã đạt đến độ hoàn mỹ, vượt qua mọi ngưỡng tưởng tượng của con người. cô ấy là nữ thần trên trái đất. Vì cô ấy là một nàng tiên, cô ấy không thể hòa hợp với quy luật của thế giới khắc nghiệt và sai lầm, vì vậy cuộc sống mới của cô ấy thật hỗn loạn và lộn xộn?

    nói ngắn gọn, thủy kiều là một nhân vật xinh đẹp trong “trường tân thanh”. Thi hào Nguyễn Du với tài ca dao, tài hoa, đã miêu tả Thúy Kiều trong những vần thơ đẹp, tinh tế và toàn diện. anh đã dành cho nhân vật rất nhiều tình cảm và sự trân trọng sâu sắc. sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lối viết thông thường và biểu tượng, sử dụng sáng tạo các biện pháp tu từ, đặc biệt là ẩn dụ, so sánh, ngôn ngữ thơ tinh tế, hình ảnh cô đọng và giàu sức gợi, và sự khéo léo trong cách miêu tả miêu tả một con người xuất chúng, người vẽ nên bức chân dung của một con người có một không hai bằng lời thơ tuyệt vời nhất. trên văn đàn nước nhà. chưa bao giờ có một người phụ nữ đẹp như vậy trước đây.

    phân tích chị em thuy kiều

    “Nguyễn trai với quốc âm thi tập là người đặt nền móng cho chữ quốc ngữ, còn Nguyễn du với quốc sử là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta. Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, tiếng Việt có thể nói đã có sự thay đổi về chất và thể hiện được khả năng diễn đạt một cách đầy đủ và sâu sắc. quả thật, “truyện kí” là một tác phẩm tiêu biểu của đại thi hào dân tộc, một “danh nhân văn hoá lớn của thế giới”. ở đó, người đọc như bị say đắm trước vẻ đẹp trọn vẹn của người thiếu nữ và cảm thấy đau xót, xót xa cho một số phận bất hạnh trong cuộc đời. Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” được tìm thấy ở đầu tác phẩm miêu tả cuộc đời, vẻ đẹp và dự đoán tương lai của hai chị em Thuý Vân và Thuý Kiều.

    Trong những dòng mở đầu, nguyễn du giới thiệu với độc giả về hai người con gái của mẹ vua:

    <3

    Trong bốn câu thơ đầu được xướng lên, người đọc hình dung ra hai thiếu nữ xinh đẹp “hai nữ a nga”, em tên là thùy vân và tên chị là thuy kiều. mỗi người có một đặc điểm riêng như hai loài hoa khác nhau, nhưng cả hai đều đẹp, rạng rỡ và thơm ngát. cô ấy là một người đẹp hoàn chỉnh, cả về ngoại hình lẫn tính cách, tài năng. Nguyễn du so sánh tính cách của cô với “mai” như “tuyết”, trong sáng, thuần khiết và mộc mạc.

    Vẻ đẹp của người em gái thủy chung được thể hiện rõ ràng và cô đọng trong bốn câu thơ sau:

    Van trông trang nghiêm khác hẳn ánh trăng rằm với nụ cười nở rộ, trang nghiêm như ngọc, mây mất nước, tóc và tuyết nhường chỗ cho màu da

    vẫn mang một vẻ đẹp mà không ai có thể có được là “khác biệt”. nàng là một vẻ đẹp đầy sang trọng, quý phái, đoan trang, xứng đáng là một tiên nữ cao quý. Vẻ đẹp của cô được vẽ bằng những hình ảnh mang tính biểu tượng và thông thường: khuôn mặt tròn như mặt trăng, lông mày rậm và sắc nét.

    Hình ảnh thông thường muốn tôn lên vẻ đẹp của chúng. tính tình nhã nhặn hòa nhã, nụ cười tươi như hoa nở rộ, lời nói của nàng đều là lời vàng ngọc ý. vẻ đẹp ấy đã đến mức thu mình lại vạn vật xung quanh, phải tôn trọng “mây rụng tóc, tuyết nhường màu da”. những hình ảnh nhân hóa “được, mất, nhường” dự báo cuộc sống bình yên, thuận lợi cho thủy văn.

    nhà thơ miêu tả thủy chung như một cái nền, một đòn bẩy để tôn lên vẻ đẹp của thủy chung. Nói đến văn tả cảnh có thể chỉ tóm gọn trong bốn dòng, nhưng nói đến kiều, nhà thơ đã dành hẳn mười hai dòng, đủ để thấy tác giả cảm nhận như thế nào về số phận này:

    vẻ mặn mà ngày càng sắc sảo của kiều diễm so với bề ngoài tài hoa còn hơn cả vẻ đẹp của mùa thu và sắc nước, vẻ đẹp của bức tranh xuân thì ghen tị, liễu kém xanh.

    van đẹp đến mức thiên nhiên cũng phải dè chừng, kiều diễm gấp nhiều lần: “càng sắc sảo mặn mà”, “càng sang”. “đanh đá” là vẻ đẹp trưởng thành và thông minh. Để khắc họa chân thực nhất vẻ đẹp của thủy chung, nguyễn du đã triệt để khai thác thủ pháp thông thường và hình ảnh tượng trưng, ​​đặc biệt tập trung vào đôi mắt của “thu thủy”. đôi mắt trong veo, điềm tĩnh và chứa đựng nhiều cảm xúc.

    Từ đôi mắt ấy, chúng ta có thể cảm nhận được tâm hồn đa sầu, đa cảm và đầy yêu thương của anh ấy. ngoài đôi mắt như làn nước mùa thu, đôi lông mày tựa “xuân sơn”. như dáng núi mùa xuân, giúp ta liên tưởng đến lông mày lá liễu, mảnh mai, cong vút, mang vẻ đẹp xuân sắc cho cả khuôn mặt. đó cũng là vẻ đẹp hiếm có, thể hiện nét dịu dàng, thùy mị của người phụ nữ.

    nhưng tại sao không so sánh trực tiếp lông mày của bạn với lá liễu mà với núi mùa xuân. bởi vì cuộc đời của anh ta cũng đầy những khúc quanh, lên xuống như núi. không chỉ vậy, vẻ đẹp thuần khiết và tự nhiên của nó còn có thể “cúi đầu nhìn nước”, tranh đấu quyết liệt mà các loài hoa, liễu cũng phải ghen tị. Phải chăng số phận đã dự báo rằng cuộc sống sau này của Thủy Kiều sẽ không được bình yên, hạnh phúc mà ngược lại, anh sẽ luôn phải chịu nhiều bất hạnh và bi kịch?

    phân tích về chị em Thủy kiều, ta thấy xét về nhan sắc thì Thủy kiều đã hơn Thúy Vân một bậc rồi, về tài năng thì còn hơn hẳn:

    bản chất tự nhiên, thơ mộng và đầy mùi hương của ca hát, ca hát, nhảy múa, ca hát, ca hát, ca hát, ca hát, ca hát, ca hát, ca hát, ca hát, ca hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, hát, nhảy

    Tư tưởng của Nho giáo cho rằng người phụ nữ không cần quá xuất sắc về mọi mặt để có được hạnh phúc trọn vẹn, đại diện cho mẫu người thùy mị nết na; Mặt khác, phụ nữ vừa xinh đẹp vừa tài năng lại kém may mắn.

    Đây là ảnh hưởng của tư tưởng thời cuộc trong thơ của nhà thơ. nhà thơ cho rằng: “thành công ắt có một, tài phải vẽ hai”. Thúy Kiều là một thần đồng, thông minh thiên phú, hơn nữa tài cầm đàn, đố vui, thi họa, hội họa của nàng đều thuộc nằm lòng. . có năng lực, có kỹ năng.

    nhưng hơn hết là tài năng âm nhạc của anh: “ngũ cung âm / nghiệp tư ăn chương hồ”. cô có thể tự mình sáng tác nhạc, tự mình lên nhạc, viết tâm sự buồn của một người cũng là một kiếp người rất khổ và đau cho cô “số phận đã đành, càng đau lòng hơn”, thật khiến người ta xót xa. . cũng bởi vì “chữ tài đi với chữ tai cùng một âm tiết.”

    khép lại đoạn trích, nguyễn du mở ra không gian sống thoải mái và yên bình của hai cô gái:

    quần hồng rất tao nhã, cuối tuần xuân xanh sắp đến, quấn quít không rời. bức tường đầy ong bướm.

    xinh đẹp, tài năng, đã đến tuổi lập gia đình, được nhiều người theo đuổi “ong bướm về quê”, ở nước ngoài,… sống có nề nếp, có “rèm” giáo dục “Chỉ chuyên tâm vào cuộc sống. một cuộc sống. bình yên, hạnh phúc.

    Bài phân tích chị em Thúy Kiều bước đầu cho thấy tài năng và bút lực của Nguyễn Du. đã khắc họa thành công hai nhân vật một cách sinh động và sắc nét qua thể thơ lục bát truyền thống với kết cấu tinh tế. hơn thế nữa, những ước lệ tượng trưng, ​​những so sánh nhân hóa độc đáo, những hình ảnh được lồng ghép khéo léo đã mang đến cho người đọc những xúc cảm khó tả; ông chỉ chăm chăm vào vẻ đẹp của nội: sắc đẹp, tài năng, tình yêu, số phận và khiến người ta đau lòng trước số phận của thủy chung.

    “thơ của trung phải, thơ của âm nhạc của trung phải”. Không biết nguyen du sở hữu bao nhiêu tài năng, bao nhiêu tâm huyết để vẽ nên một bức tranh độc nhất vô nhị trong “chị em thủy chung”. Bức tranh tinh tế, sống động, chân thực và gần gũi, nhưng khi nhìn vào, người ta có thể cảm nhận được từng hơi thở của thi nhân, những giọt nước mắt thương cảm cho số phận không cam lòng của nàng thủy chung phía trước. nay và muôn đời, truyện kiều vẫn mãi là tác phẩm văn học bất hủ được lưu truyền muôn đời.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 1

    Về nghệ thuật, văn học trung đại, bao gồm cả văn xuôi và thơ, thường miêu tả những bức chân dung nhỏ. chẳng hạn, khi miêu tả vu thị trong truyện thiếu nữ xương cốt (truyền kỳ nam lục), nguyễn du chỉ nêu ra “tính cách đa tình, tinh quái và có tâm tính tốt”, nghĩa là nhân hậu, nhân hậu. . . thanh tâm tài sắc – tác giả truyện kim văn kiều (trung quốc), tuy rằng sáng tạo hơn ở chỗ: không phải ở tác giả lời nói, mà là thông qua nhân vật, ở đây nhân vật quan trọng mới thấy được đặc điểm. hai cô gái cùng họ vường đứng ngoài: “Thủy kiều lông mày nhỏ nhưng dài, mắt trong veo sáng ngời, khuôn mặt như trăng thu, sắc mặt như hoa đào. Thủy vân có thần thái điềm đạm, đoan trang.” ngoại hình và một phong cách … thật khó diễn tả. “

    chấp nhận, nghĩa là kế thừa và sáng tạo, kể cả sáng tạo từ nguyên mẫu của người xưa, nguyễn du có cách làm khác là đưa nghệ thuật đến gần với cuộc sống và cái đẹp gần với thực tế hơn, để sức sống của nghệ thuật nhiều hơn dồi dào và mạnh mẽ hơn. sức hút đối với người đọc vì thế mà lớn hơn rất nhiều. Nói như vậy không có nghĩa là không có những trở ngại, rào cản, khuôn mẫu trong cách kể chuyện của Nguyễn Du. chẳng hạn, chỉ trong đoạn văn này, cách trần thuật của nhà thơ dường như theo một khuôn mẫu, lớp lang được sắp xếp theo thứ tự từ đầu: giới thiệu chung trước, kiều và miêu tả sau. Sau khi miêu tả cụ thể từng người, nhà thơ tóm tắt họ bằng cách kết luận. đó là cái nhìn tổng thể. nhưng trong tập đó, ngòi bút của nhà thơ đã có sự đột phá và có thể nói là đã đạt được những thành công đáng kể trong thời kỳ bùng nổ văn học.

    trước khi đi vào phân tích từng phần, nếu cần nhận xét chung thì nhận xét đó là: hai mươi bốn câu thơ tả người, tả vẻ đẹp của con người được đặt trong toàn bộ lịch sử xứ kiều như một điều rất trọn vẹn. cấu trúc riêng điều chỉnh, hài hòa, dung hòa. trong đó có cả những câu chung (bốn câu đầu và bốn câu cuối), cũng như những câu riêng (mười sáu câu giữa). Về tính khái quát, sự hài hòa tương phản miêu tả không chỉ thể hiện ở sự cân đối về số câu, mà cái chính là ở giọng điệu của người kể. đúng giọng điệu, nếu bốn câu đầu là phê phán thì bốn câu cuối như mờ ảo. và dù phê bình hay khép lại, giọng thơ vẫn thoải mái và không bị gò bó:

    đầu tiên, hai người phụ nữ đầu tiên

    Hai câu thơ đầu tiên có âm sắc trung tính, thậm chí không có một chú thích nào. sự ra đời của hai cô gái không có gì khác thường. nhưng hai dòng sau, giọng điệu đã thay đổi, giọng điệu của bài thơ cũng thay đổi: một dòng hai bước (dòng ba): “bộ xương / tuyết linh” như một ấn tượng, một điều gì đó rất khó nói, khó thành. quên đi. Nhịp 3/3 thay cho nhịp đôi như thường lệ, nhất là giọng thơ với ba thanh điệu liên tiếp (cốt, cách, tuyết) trong đó chỉ có một từ bắt buộc (tuyết) là thanh, thể hiện thái độ phê phán, ngợi ca hiếm có. bắt đầu nỗi ám ảnh của lá thư. vẽ sự chú ý. sự chú ý này ở hai cấp độ: có những vẻ đẹp khác nhau, và cả hai đều hoàn hảo (“mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”), nó còn là vẻ đẹp “tinh thần” trong tổng thể của “cốt lõi” – cả hình thức và nội dung. . chỉ có cấp hai cũng là kim chỉ nam của nhà thơ trong quá trình khám phá vẻ đẹp của hai cô gái sau này.

    Vẻ đẹp của van bắt đầu bằng giọng nói vừa chân thực vừa mang tính đối thoại, tạo nên mối quan hệ đồng cảm giữa người nói và người nghe rất cô đọng:

    nó trông rất trang trọng

    Từ “thấy” xen kẽ với lời tường thuật đã để lại ấn tượng chủ quan cho người kể. nhưng vẻ đẹp của nàng thuy đi đến chỗ “dị biệt” vốn đã là một dấu ấn chủ quan lại càng lộ rõ. hai từ “tuyệt vời khác” tương đương với cụm từ “tuyệt vời” (“những cánh hoa hồng tuyệt vời”). “khác biệt” là một vẻ đẹp khó tả, vẻ đẹp của cái đẹp và cái đẹp vượt ra ngoài cái đẹp. bản thân nó là một bài thơ mà ý nghĩa của nó không chỉ nằm ở những câu chữ. tuy nhiên, để cụ thể hóa và đồng thời nhân cách hóa vẻ đẹp của thủy văn, bạn phải đọc tiếp những câu sau. nhiều người khi phân tích ba câu thơ sau đây thường chỉ chú ý đến: hình trăng khuyết, hoa cười và ngọc thạch, vốn là những cụm danh từ quy ước mà ít chú ý đến các vị ngữ đi kèm như: tròn trịa, đầy đặn, trang nghiêm. Từ những gì chúng ta hiểu được, hình trăng chỉ khuôn mặt, nét mặt chỉ mày, hoa chỉ nụ cười, giọng nói của ngọc chi đã được cách điệu theo mẫu có sẵn của thơ cổ để tránh quá nhiều. những suy luận rút ra đáng có. chẳng hạn “mặt trăng” được giải thích là mặt tròn (?), lông mày sắc, rậm như con trai (?), tóc đen nhẹ hơn mây (?)… giải thích như vậy không những không sai mà còn phong thái thùy mị nhan sắc, đi vào xu hướng dung tục hóa, tầm thường hóa, không trung thành với vẻ đẹp cao quý và thuần khiết như “tuyết” theo đúng tinh thần của vẻ đẹp ấy. ví như hiểu “mày ngài” là lông mày đẹp, thì đó là vẻ đẹp của người võ tướng như chữ hải “râu hùm, hàm én, mày ngài”. Lấy ba vị ngữ nêu trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh cách hiểu sau: nhà thơ muốn chắt lọc vẻ đẹp của thùy văn ở khía cạnh dung hoà, hài hoà giữa cái đẹp và cái đức. cái đẹp làm tươi mới đức hạnh (để khỏi phải sống khổ hạnh), ngược lại: đức hạnh làm cho cái đẹp trở nên nhu mì. cái độc đáo của thủy văn nằm ở ranh giới phân chia đó để thống nhất hoàn toàn hai khía cạnh khó gặp nhau. trong vở kịch tống tiền của shakespeare, trong trạng thái điên cuồng giả tạo, tống tiền nói với ophelia bằng một cụm từ rất “tỉnh táo” về nghịch lý vừa được đề cập: “nếu bạn là cả hai nếu một người vừa có đức vừa đẹp thì làm sao có đức. nói với vẻ đẹp của cô ấy? thực hiện sự thống nhất này thật khó, thậm chí khó khi nhà thơ thoát ra khỏi khuôn mẫu công thức mà vẫn miêu tả chính xác vẻ đẹp tinh thần của một vẻ đẹp trời cho. Đâu đó tỏa ra hương thơm dịu dàng và thanh khiết từ dáng vẻ dịu dàng, nhân hậu của nàng thùy vân, vẻ đẹp ấy thật đáng “mây mất tóc, tuyết nhường màu da”. trước vẻ đẹp của thủy chung, thiên nhiên mây, tuyết cũng phải kính nể anh ơi.

    miêu tả như vậy là đã đẹp rồi, hay quá, cái kết cũng tuyệt. nhưng trong sự liên kết của mạch thơ, người kể dường như đã thu được nhiều điều để tôn vinh một nhân vật thứ hai tiếp nối: “kiều càng sắc, càng mặn”. đó là hai phẩm chất của thùy kiều mà thùy văn không có hoặc có nhưng chưa đầy đủ: tài và sắc. “Ách” là trí tuệ, tài năng, khả năng nhận thức nhanh nhạy, thông minh, ứng xử linh hoạt, kịp thời. tài năng của ông cũng là chịu đựng kỳ thi vẽ, bốn thú vui tao nhã mà ông còn sót lại. và “mặn” là tình yêu, nó nồng nàn, say đắm, không nhạt nhẽo, vô tâm. ý thức nhấn mạnh này không chỉ là việc sử dụng công nghệ nghệ thuật (ví dụ, viết trước để so sánh), mà còn là sự đồng cảm của nhà thơ. sự cảm thông này là theo cấp số nhân thông qua hoạt động gián điệp. “more” trong câu trên là nhiều hơn, nhưng dường như vẫn chưa đủ. phải mất hai năm mới biết mười “so tài là hơn”. nhưng “tài năng” – sự lặp lại kép của “gian xảo, mặn mà” không hoàn toàn là ngẫu nhiên.

    Thực ra khi miêu tả tài năng của thủy chung, nguyên du vẫn dựa trên sự mô phỏng, lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn để miêu tả con người. mô tả cũng vậy. điều duy nhất: đó là hai vùng tự nhiên khác. nếu tính chất dùng để miêu tả hoa văn là tính chất hoàn chỉnh, ổn định và đầy đủ thì trong miêu tả cảnh sắc thiên nhiên lại sinh động và biến hóa hơn. điều đó không có nghĩa là mô tả, phần thể hiện tập trung hơn, tập trung vào một đặc điểm chính: đôi mắt.

    vào mùa thu, vẻ đẹp của bức tranh xuân trong trẻo, hoa ghen, liễu kém xanh.

    Đúng là đôi mắt và đôi lông mày, một đôi mắt trong suốt và không màu, một đôi mắt biết khóc và biết cười, đang đánh thức một tuổi trẻ tiềm tàng. vẻ đẹp đó không chỉ là sắc đẹp, nó đã biến đổi tâm hồn. tả vân, nhà thơ nói “có, có khác có trang trọng”, đó là cảm nhận chủ quan. và “mùa thu, thuỷ chung”, nhất là “bức tranh xuân”, vẻ đẹp ở đây là khách quan, tự nó, nằm ngoài khả năng lĩnh hội của nhà thơ. Vẻ đẹp ở nước ngoài nói chung là vẻ đẹp vượt ngưỡng, không một đấng minh chủ nào có thể ôm đồm được, kể cả thiên nhiên, một tiêu chí tối thượng cho vẻ đẹp con người trong văn học trung đại.

    Hoàn thiện một cách tuyệt đối vẻ đẹp của nhân vật không phải là một con đường dễ dàng. Để thuyết phục, để mọi người chấp nhận, có một cách “làm mềm” mà nhà thơ đã tìm ra: “màu sắc phải cần một tài mới vẽ hai”. nghĩa là, trong sự hoàn hảo có chiến thắng và thất bại. nói tài mất sắc không có nghĩa là thường xuyên có tài hay “có tài”. thua thì so về nhan sắc, nhưng tài năng ấy cũng hiếm có trên đời.

    sự thông minh vốn có trong tự nhiên, pha trộn giữa nghệ thuật hội họa với khứu giác ca hát.

    Trong bốn tài năng ấy, có lẽ tài năng của kiều là nổi bật. bởi vì bạn vẫn đang quen với những chuyển động của suy nghĩ từ cái chung đến cái cụ thể. nhưng khi nói đến những điều cụ thể, thơ, ca và tụng được gộp lại với nhau trong một câu. và sau đó guitar yêu cầu bốn cụm từ. và trong bốn câu đó, mỗi câu đều nói đến một thiên tài. có khi để thuần hóa (luu), có khi để làm nổi bật (ăn) một tài năng thiên bẩm (miếng nhà), đặc biệt là với điềm báo bạc mệnh, “đã bạc mệnh lại càng nhân đạo”. người ta thường nói đến vẻ đẹp của số mệnh vì “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. không chỉ vì bản tính hay giận hờn ghen tuông mà còn vì cả cái kieu:

    <3

    nhưng sau tất cả, đó là thứ âm nhạc khiến cuộc đời anh đau đớn. và rồi tiếng đàn cũng vụt tắt trong suốt mười lăm năm rong ruổi, rong ruổi suốt cuộc đời. Không phải ngẫu nhiên mà hơn hai trăm năm sau, hễ nhớ đến cụ Nguyễn Du là nhớ tiếng đàn:

    Tiếng đàn cũ gãy ngót hai trăm năm còn mê hơn.

    (nguyen du thân mến)

    nhưng, mọi thứ đều là một câu chuyện đằng sau. và giờ đây, những trang đầu đời của hai chị em không hề có một vết mực nào, vẫn trong sáng và sạch sẽ. bốn câu cuối trở về trạng thái thư thái: “quần đỏ và rất trang nhã”, “vén rèm nhẹ nhàng thướt tha”… gần giống với bốn câu đầu. nhưng như đã nói ở trên: nếu bốn câu đầu là lời bình, thì bốn câu cuối mang tính chất khép lại câu chuyện. câu thơ khép lại nhưng vẫn có gì đó bồi hồi. “mùa xuân sắp về …” có phải là chút hồi hộp, chờ đợi, có điều gì đó đang hiện ra, bên “bức tường đầy ong bướm” mà các cô “màn”, “đi chơi” “? vẫn chưa tỉnh táo?

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – mẫu 2

    nguyễn du là đại thi hào dân tộc, nhà nhân đạo lớn, danh nhân văn hóa thế giới. “Truyện Kiều” là kiệt tác của Nguyễn Du và là quốc hồn của Việt Nam. đoạn trích “chị em thủy chung” nằm ở đầu tác phẩm giới thiệu và miêu tả vẻ đẹp của hai người con gái.

    Bốn câu thơ đầu, tác giả đã khắc họa vẻ đẹp của hai người phụ nữ:

    “hai vị tiên sinh, nga thùy kiều và nga thùy kiều là chị em, ta là thủy văn mai, mỗi người đều có khí chất mười phần”

    nguyen du so sánh hai chị em với “hai bà nga”, là những mỹ nữ ngày xưa. tác giả đã giới thiệu vai trò, vị trí của từng người trong gia đình thủy kiều là chị và thủy vân là em. cả hai người đều có dung mạo dịu dàng, phong thái như hoa mai cao quý, phẩm chất và phẩm hạnh trong sáng như tuyết. “may” và “tuyết” đều đẹp, văn kiều là sự kết tinh của những nét đẹp ấy. nhan sắc của cô ấy cũng tuyệt đối, lý tưởng “mười phân vẹn mười”.

    Chân đã sử dụng của thuy van xuất hiện trong suốt bốn dòng tiếp theo. vẻ đẹp của van “sang chảnh lạ thường”, quý phái như những tiểu thư chốn đỏ tía. “khuôn trăng tròn vành vạnh” là khuôn mặt nhân hậu, tròn trịa sáng như trăng rằm về đêm, lông mày cong như khuôn mặt trẻ thơ, tạo nên sự cân đối hài hòa.

    “hoa cười, ngọc lan, trang nghiêm, mây mất nước, tóc tuyết màu da”

    Nụ cười tươi như hoa và giọng nói trong trẻo như ngọc. Cách dùng từ “thốt nốt” của Nguyễn Du cho thấy Vân là một cô gái chu đáo, ăn nói khéo léo. mái tóc của cô ấy mềm mại và bồng bềnh như những đám mây. làn da của cô ấy trắng hơn và mềm hơn tuyết.

    Xem thêm: Ý nghĩa chi tiết bát cháo hành của Thị Nở – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

    không giống như van, vẻ đẹp của người phụ nữ siêu phàm không được miêu tả chi tiết từng phút một và được tác giả ghi dấu ấn, vì vậy chiếm được tinh thần và cảm động nhất:

    “xuân thu thủy chung, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

    nguyen du trước đây cũng cho rằng “so tài” thì kiều vẫn hơn mình. Vẻ đẹp của kiều diễm sắc sảo, đằm thắm với đôi mắt như làn nước mùa thu ẩn hiện dưới đôi mày cong như núi mùa xuân. đặc biệt, nếu với văn, nhà thơ dùng các từ “mất”, “cho” thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên thì giờ đây vẻ đẹp của kiều còn khiến thiên nhiên phải ghen tị, ghen tị. Thật là một cô nương xinh đẹp nhưng cũng có vẻ như đang định sẵn một cuộc sống êm đềm bên nàng thuy văn và đầy sóng gió, trắc trở với nàng thúy kiều.

    Không chỉ miêu tả sắc đẹp, nguyễn du còn dùng nhiều câu để miêu tả tài năng của người phụ nữ nước ngoài, đặc biệt là tài năng của nàng: “xinh đẹp phải cầu một, tài phải sắc hai”. đi thi vẽ, bạn ấy biết năng khiếu gì, bạn ấy cũng giỏi. nhưng điều tuyệt vời nhất là tài năng:

    “gung thươngu có nghề riêng ăn nên làm ra ở hồ trác”

    Anh ấy cũng sáng tác đàn hạc bạc của riêng mình. cây đàn hạc là tiếng đệm của một tâm hồn đa cảm và đa sầu đa cảm. nhưng chính cung điện này cũng như ẩn chứa một điềm báo về chuyến hải hành khó khăn ra nước ngoài. kiều nữ là sự kết hợp hoàn hảo của sắc đẹp – tài năng – tình yêu.

    Dù đều là mỹ nữ, mỹ nữ, nhưng hai chị em vẫn sống rất khiêm tốn như những đóa hoa còn e ấp, bất chấp mọi lời ong bướm.

    đoạn trích “chị em thủy chung” đã khiến người ta phải trầm trồ khen ngợi chân dung hai mỹ nhân tuyệt sắc trong văn chương thơ văn! Đoạn trích còn thể hiện tài năng và cảm hứng nhân văn của đại thi hào Nguyễn Du.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – mẫu 3

    Trong thơ cổ viết về mỹ nữ, bài thơ “chị em gái” trích trong “đoạn trường tân thanh”, tức là truyện kiều của đại thi hào Nguyễn Du, là một trong những bài thơ hay nhất. hai mươi bốn khổ thơ sáu và tám dòng đã vẽ nên vẻ đẹp, tài năng và đức độ của hai chị em Thuý Kiều.

    với ngòi bút tài hoa tuyệt vời, ngòi bút nguyễn du đã vẽ nên bức chân dung của hai đại mỹ nhân:

    “Nhị tiên sinh, thủy kiều là chị em, thủy chung là thủy văn”

    van là em, kieu là em. van va kieu (con gai dau tien) la nhung nguoi phu nu xinh dep, xinh dep. vẻ đẹp của hai cô gái là vẻ đẹp thanh tao của hoa mai, trong trắng và thuần khiết của tuyết:

    Xem thêm: Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo. Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận nhận định trên. – Thế giới văn mẫu

    “xương tuyết cùng tinh thần chia lìa, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

    Thư pháp thông thường và ẩn dụ đã gợi lên một vẻ đẹp hài hòa, hoàn hảo cả về hình thức và tâm hồn. Vẻ đẹp của hai cô gái đều hoàn hảo, nhưng mỗi người lại có một vẻ đẹp riêng. Nguyễn du đã lấy những gì đẹp đẽ nhất của thiên nhiên để miêu tả về hai chị em. thuy kieu và thuy van có vẻ đẹp lý tưởng, theo khuôn mẫu và vượt ra khỏi khuôn mẫu.

    sau những câu thơ giới thiệu về hai chị em, ngòi bút của nguyễn du đã đi một hướng cụ thể hơn vào bức chân dung cao quý của thủy chung:

    “vâng, nó trông thật trang trọng”,

    hai từ trang trọng trong đoạn thơ đã thể hiện được vẻ đẹp thanh cao, cao quý của văn. vẻ đẹp của một thiếu nữ được so sánh với những điều đẹp đẽ trên thế giới:

    “trăng tròn vành vạnh. Hoa cười trang nghiêm, mây mất nước, tóc tuyết nhường màu da”

    chân dung của van được lột tả trọn vẹn từ khuôn mặt, lông mày, làn da, mái tóc cho đến nụ cười, giọng nói. Van có khuôn mặt đầy đặn, nhân hậu như mặt trăng, lông mày sắc nét như con trai, nụ cười tươi như hoa, giọng nói trong trẻo phát ra từ hàm răng trắng ngà, mái tóc gợn sóng hơn, làn da trắng hơn. . Hơn cả tuyết, vẻ đẹp của mây được so sánh với vẻ duyên dáng và trong sáng của những báu vật tinh khiết của trời đất. ai cũng toát lên vẻ đẹp dịu dàng, thùy mị, trang nghiêm và cao quý. van đẹp hơn vẻ đẹp của thiên nhiên mà tạo nên sự hài hoà, mềm mại: mây mất, tuyết nhường. Với vẻ đẹp như vậy, bạn sẽ có một cuộc sống bình lặng, êm đềm và một tính cách điềm đạm. Qua bức chân dung này, Nguyễn Du đã gửi gắm những thông điệp về tương lai và cuộc đời, vì vậy bức chân dung của Thúy Vân chính là bức chân dung của số phận.

    mô tả cẩn thận và cụ thể, nhưng nguyễn du chỉ vẽ kiêu bằng những nét phác thảo rõ ràng vì không muốn trở thành một họa sĩ vụng về:

    “Kiêu thì mặn hơn, so với tài là hơn”

    Vẻ đẹp của kiều được so sánh với vẻ đẹp đoan trang, quý phái của van để thấy được sự vượt trội về sắc vóc của tài năng trí tuệ, về sự ngọt ngào của vẻ đẹp. Không thể tả được khuôn mặt, giọng nói, điệu cười, làn da, mái tóc như thủy văn, nhưng Nguyễn Du đã rất khéo chọn đôi mắt nước ngoài để miêu tả vì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh hoa của tâm hồn và trí tuệ. :

    “làn thu với bức tranh mùa xuân”,

    Câu thơ tả đôi mắt gợi lên một cảnh sơn thủy hữu tình. hình ảnh đó có nước mùa thu, nước mùa thu, bức tranh mùa xuân, hình núi mùa xuân. cũng như khuôn mặt xinh đẹp với đôi mắt trong veo, long lanh và đôi lông mày thanh tú tạo nên:

    “những bông hoa ghen tị chạy trên hàng liễu xanh”

    Vẻ đẹp của kiều không chỉ giống thiên nhiên, mà còn vượt lên trên thiên nhiên, khiến hoa ghen, cây liễu cũng phải ghen tị. tự nhiên không còn thua nữa mà cau mày, mím môi giận dỗi mà ghen tuông vô cớ. nếu vẻ đẹp của van là vẻ đẹp thuần khiết nhất của đất trời thì kiều mang vẻ đẹp của nước non, không gian bao la và thời gian vô tận. vẻ đẹp đó uốn cong mặt nước, biến nó thành:

    “một hoặc hai mặt nghiêng nước nghiêng thành”,

    nguyễn du đã dùng những tấm gương tích cực để lại cho đất nước vẻ đẹp tuyệt trần của trang mỹ nhân. và cũng chính vẻ đẹp có một không hai mà phẩm chất cao quý tiềm ẩn bên trong là tài năng và tình yêu thương rất đặc biệt:

    “nghề sơn môn tiếng thơm tiếng hát xướng. cung thương là bậc ngũ âm, nghề riêng ăn nên làm ra”

    kiều có cả tài chạm-chạm-thi-sơn của các bậc nho sĩ, tài hoa đều đến mức điêu luyện. cô ấy giỏi luật âm thanh đến nỗi cô ấy gắt gỏng. cây đàn mà anh ấy chơi là đàn hạc, âm thanh của nó có thể giết chết bất kỳ nghệ sĩ nào và nó đã trở thành nghề của anh ấy. để miêu tả tài năng của kiều nữ, nguyễn du đã dùng hàng loạt từ ngữ ở mức độ tuyệt đối: “đô, hỗn tạp, mưa rào, mùi mẫn”. Cô không chỉ hát hay, chơi piano mà còn sáng tác nhạc. cung đình do ông sáng tác là một “bạc mệnh”. bản nhạc ấy đã ghi lại tiếng lòng của một tâm hồn đa sầu, đa cảm. nguyễn du cực để lại tài năng ca ngợi cái tâm đặc biệt của ông. Tài năng của kiều đứng trên tất cả, là biểu hiện của những phẩm chất cao quý, tấm lòng trung hậu, nồng hậu, nhân ái, vị tha. Vẻ đẹp của kiều là sự tổng hòa của sắc – tài – tình và đạt đến mức cao siêu, lý tưởng. nhưng sắc đẹp của nàng thật đáng ghen tị, liễu khiến tạo hóa phải ghen ghét ghen ghét, còn tài năng và trí thông minh thiên phú của nàng đủ để ngửi thấy sự đau khổ và tâm hồn đa cảm của nàng khó tránh khỏi sự sa ngã của số phận. Chính vì Kiều quá hoàn mỹ, hoàn mỹ nên nàng khó lòng tìm được chỗ đứng trong xã hội phong kiến ​​ấy. và cung “mệnh bạc” do chính chị sáng tác như một dự báo về cuộc đời tất yếu của những Việt kiều. cuộc đời bạn sẽ có nhiều sóng gió, thăng trầm, sóng gió. như chân dung thủy vân, chân dung kiều là bức chân dung định mệnh.

    nguyễn du ca ngợi văn y kiều một vẻ mười phân vẹn mười, nhưng ngòi bút của tác giả mỗi người một khác. van chủ yếu là đẹp về ngoại hình và kiều đẹp về cả tài năng lẫn sắc đẹp tâm hồn. Điều đó tạo nên vẻ đẹp khác nhau của hai thiếu nữ và bộc lộ hai tính cách, dự báo hai cuộc đời khác nhau đang chờ đợi hai người phụ nữ. hai bức chân dung hai chị em Thủy văn và Thủy kiều đã thể hiện sự tài tình của ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du.

    ở cuối đoạn văn của người lao động có bốn câu lục bát miêu tả cuộc sống đàng hoàng và mẫu mực của hai chị em ở nước ngoài:

    <3

    Xem Thêm : Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân- người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp – Văn mẫu học sinh

    hai cô con gái của vương gia không chỉ có nhan sắc – tài năng – tình yêu mà còn cả đức hạnh. sống lối sống quần hồng mực. cả hai đều đã đến tuổi lập gia đình – tuổi xế chiều, trâm anh thế phiệt nhưng vẫn sống cảnh:

    “nhẹ nhàng, rèm che, tường đầy ong bướm”

    hai câu thơ như che chở, bao bọc hai chị em, hai bông hoa còn đang nhụy trong cảnh thanh bình, hương thơm chưa từng ai tỏa ra. Nguyễn du đã hạ màn, rũ bỏ mọi ô uế cho cuộc sống giàu sang của hai chị em để nâng cao thêm phẩm hạnh.

    Với cảm hứng nhân đạo và tài năng thơ ca, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung Thuý Vân, Thuý Kiều với những gì cao đẹp nhất. hai bức tranh thơ mỹ nhân đã thể hiện ước lệ tượng trưng và tu từ trong ngòi bút tinh tế của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 4

    có ý kiến ​​cho rằng: “sử kiều là một kiệt tác hàng trăm năm, có lượng phát hành lớn và có sức chinh phục người đọc”. Thực sự bằng tài năng và tấm lòng của mình, Nguyễn Du đã tạo nên một kiệt tác để đời. trong đó có đoạn trích “chị thủy kiều” thể hiện tài năng miêu tả và miêu tả nhân vật.

    là đoạn trích thể hiện rõ nét nhất hai chị em thủy chung, không những thế, qua những đoạn trích đó còn thể hiện được tính cách, số phận của hai chị em. đoạn trích mở đầu bằng bốn câu giới thiệu hai chị em Thủy kiều và Thủy văn:

    “hai vị tiên sinh là chị em, tôi là thuy vanmai, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

    Hai chị em xuất hiện, được tác giả gọi là “tô nga” nghĩa là người con gái xinh đẹp ngày xưa. thuy kiều và thủy vân, hai cô gái có thân hình mảnh mai như cây mai, da trắng nõn nà như tuyết đầu mùa. hai cô gái với vẻ đẹp khác nhau nhưng đồng thời cũng hoàn hảo và trọn vẹn. Có vẻ như hai chị em được coi là chuẩn mực của vẻ đẹp đương đại.

    Sau khi tác giả giới thiệu hai cô gái xinh đẹp, đại thi hào tiếp tục khắc họa tính cách của từng nhân vật. trong đoạn trích, thủy vân tuyệt mỹ:

    “van thấy trang nghiêm khác hẳn, khuôn trăng tròn vành vạnh, nét nở rộ. Hoa cười ngọc nhã, mây rụng tóc, tuyết nhường màu da”

    Họ đi cùng vẻ đẹp xứng tầm thiếu nữ năm xưa. khuôn mặt tròn đầy như trăng rằm, lông mày sắc như bướm, nụ cười tươi như hoa, da trắng như tuyết, tóc mềm như mây. bằng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp với so sánh, sử dụng các hình ảnh thiên nhiên như: “trăng, nguyệt, hoa, mây, tuyết” làm cho vẻ đẹp của đường vân như thật sống động với tất cả vẻ đẹp thiên nhiên. chúng ta có thể cảm nhận được qua cách thể hiện của tác giả rằng cô ấy là một cô gái đoan trang, tốt bụng, nhu mì và khiêm tốn. đặc biệt vẻ đẹp ấy tạo nên sự giao hòa với thiên nhiên đất trời: “mây mất”, “tuyết nhường” nghĩa là thái độ cung kính, chấp nhận của thiên nhiên trước vẻ đẹp của nó. nhìn vẻ đẹp của thuy van mang đến cho tôi một điềm báo về một tương lai hạnh phúc và bình yên sẽ đến với cô ấy.

    nếu như thùy văn mang vẻ đẹp thanh cao, quý phái thì vẻ đẹp của thủy chung lại càng nổi bật hơn cả về nhan sắc và tài năng qua mười hai câu tả kiều với bốn câu chân dung:

    “Kiều sắc càng ngọt, so tài thì hơn xuân, xuân thì hoa, ghen, liễu kém xanh”

    Trong xã hội xưa, con người luôn cho rằng thiên nhiên là tiêu chuẩn của cái đẹp, con người thường so sánh mình với thiên nhiên hoặc hiện lên qua những hình ảnh tượng trưng. tác giả dụng ý miêu tả vân trước trán, khéo léo sử dụng đòn bẩy làm nổi lên vẻ đẹp của kiều diễm. Nếu như thùy văn có vẻ đẹp đoan trang, nhân hậu thì thùy kiều lại sắc sảo, mặn mà, tài sắc vẹn toàn. vẻ đẹp của kiều được miêu tả một cách xuyên suốt, không miêu tả một cách phiến diện như vậy là một cách tạo điểm nhấn riêng biệt. Qua đôi mắt trong veo và mềm mại như hồ thu, đôi lông mày sắc nét tươi tắn như núi mùa xuân. một hình ảnh ước lệ quen thuộc kết hợp với phép so sánh ẩn dụ đã khắc họa nên một bức chân dung đẹp hoàn hảo của thủy chung. vẻ đẹp làm cho “hoa cuồng nhiệt mất đi, liễu kém xanh tươi”. “ghen”, “ghét” là những động từ chỉ sự ghen ghét, đố kỵ, nó mang sắc thái mạnh mẽ biểu thị thái độ ghen tị của thiên nhiên trước vẻ đẹp của nàng thùy kiều, vẻ đẹp làm cho nước mất nhà tan, tiềm ẩn tai họa. và đằng sau cơn thịnh nộ của tạo hóa đó sẽ là sự trả thù theo quy luật của tự nhiên: “trời xanh, má hồng đánh ghen”.

    nếu ở thuy văn tác giả chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp thì ở cái đẹp và cái tài đi kèm với nhau:

    “Kỹ năng cần một, tài năng có thể vẽ hai”

    tác giả khen ngợi thủy kiều là một thiếu nữ xinh đẹp, không chỉ vậy, tài sắc vẹn toàn, trên đời này không có người thứ hai bằng nàng:

    “bản chất bẩm sinh thông minh, văn thơ, đầy hương sắc hát xướng, ngâm thơ, hát múa lầu ngũ âm, nghề riêng mộ thiên hồ, cầm ca nhà, chọn tấu chương”

    tiêu chuẩn về nhân tài ngày xưa hội tụ: “cầm, tra, khảo, sơn”, thùy mị đủ cả, không những phải biết mà còn phải đạt đến trình độ khiến người khác phải nể phục. trong đó, anh đặc biệt vượt trội về khả năng “cầm trịch”. cung đàn do một thiếu nữ đa cảm, đa sầu đa cảm, có lẽ bài hát do cô sáng tác thời trẻ là sự sắp đặt của số phận, báo trước một tương lai xa bình yên:

    “xui xẻo còn não tàn hơn”

    Với tất cả những tài năng và phẩm chất mà bạn có, sự thật là cuộc sống bình lặng ngày nay, dưới lòng đất lặng lẽ đang chuẩn bị cho phong ba bão táp. trong dân gian xưa cũng có câu: “tài bao nhiêu thì trời đất ghen tị bấy nhiêu” hay “chữ tài đi liền với chữ tai, một vần”.

    khép lại đoạn trích, nguyễn du một lần nữa tái hiện lại cuộc sống thường ngày êm đềm của hai chị em thủy vân và thủy kiều:

    “phong thanh tao nhã, xuân rất xanh, xuân cận tuần kê, tĩnh mịch, màn trướng ong bướm, về nhà dùng đi”

    sống có chừng mực, ở thế “treo khăn che mặt”, hai chị em đang đến tuổi tìm chồng cho mình, nhưng có lẽ chữ “dụng” ở câu thơ cuối đã thể hiện thái độ thùy mị, nết na. , đừng nghĩ về những người ở đó.

    Bằng cả tài năng và tấm lòng của mình, đại thi hào Nguyễn Du đã khắc họa hai nhân vật một cách sinh động và sắc nét. với thể thơ lục bát truyền thống mượt mà, tinh tế, cấu trúc và trình tự ý nghĩa. song song đó, biện pháp tượng trưng thông thường nổi tiếng (như vậy và nước, nét vẽ xuân, nhân mai, tuyết linh …), sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ như so sánh các nhân vật độc đáo … không chỉ để khắc họa mà còn qua đó linh cảm về số phận của hai chị em. đặc biệt là chân dung thủy kiều là bức chân dung hội tụ khá đầy đủ: “sắc đẹp, tài hoa, bạc mệnh”.

    Như vậy, đằng sau sự miêu tả và những điềm báo về số phận của Nguyễn Du là tấm lòng của nhà thơ dành cho người thiếu nữ trong xã hội xưa. đó là nét đặc sắc trong đoạn trích “Chị em thủy chung”, một đoạn trích tiêu biểu cho tài năng khắc họa chân dung của nhà thơ lớn.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – mẫu 5

    “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ là một kiệt tác bất hủ của văn học trung đại mà còn của nền văn học Việt Nam. với giá trị tư tưởng lớn, hiện thực sâu sắc, phản ánh, lên án sự bất công, tàn ác của chế độ phong kiến ​​và số phận bất hạnh của người phụ nữ. đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo, đồng cảm sâu sắc với số phận con người, nhất là trẻ em, trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ dưới chế độ cũ.

    có thể nói, dù là người của chế độ phong kiến ​​nhưng qua “truyện cổ tích” chúng ta có thể nhận ra tư tưởng, tư tưởng của Nguyễn Du đi trước thời đại hàng trăm năm, bước ra từ văn học là một tác phẩm kinh điển có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Việt Nam. Truyện Kiều giống như nguồn cảm hứng dồi dào, là điểm khởi đầu cho nhiều loại hình văn hóa khác như: bói bài, bói bài, trò chơi đàn, tranh vẽ, vịnh kiều … thậm chí chúng còn trở thành đề tài của nhiều loại hình nghệ thuật. . , âm nhạc, hội họa … không chỉ vậy, truyện Kiều đã trở thành một tác phẩm hiếm hoi của văn học Việt Nam được dịch và xuất bản tại hơn hai mươi quốc gia. Thành công của Truyện Kiều không chỉ bắt nguồn từ nội dung hiện thực, nhân văn mà còn ở giá trị nghệ thuật thể hiện tài viết chữ tuyệt vời của Nguyễn Du. trong đó vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát của dân tộc, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, nghệ thuật tả cảnh và tả người bằng bút pháp tượng trưng, ​​linh hoạt, giàu sức gợi … đoạn trích “Chị em thuỷ chung” là một trong những đoạn trích thể hiện một tài năng rất đặc biệt trong việc sử dụng các ước lệ tượng trưng để miêu tả vẻ đẹp con người của nguyễn du.

    thuy kieu, nhân vật chính của vở kịch xuất thân từ một gia đình danh giá, khuê các. đoạn trích của chị em Thủy Kiều được tìm thấy ở đầu vở kịch “gặp gỡ và hứa hôn”, trình bày về hoàn cảnh gia đình ở nước ngoài và mối quan hệ định mệnh của họ với người đàn ông quý giá.

    Hai câu đầu của đoạn trích “Hai bà tiên là chị em của thúy văn, thùy văn” trình bày thân phận của hai chị em với tư cách là hai người con gái trưởng của hoàng tộc, trong đó Thủy kiều là chị cả. , và thuy van là con trai thứ hai. Nguyễn du đã tóm gọn vẻ đẹp chung hơn của hai chị em bằng một cụm từ “xương cốt, tuyết tinh”, thể hiện phong cách ước lệ đầy sức gợi của tác giả. “cốt” nghĩa là phẩm chất, nhân cách của hai cô gái, được ví với cây mai – một trong tứ linh tượng trưng cho vẻ đẹp cao sang, giàu sang, kiên trì, bền bỉ trong cuộc sống. lại lấy “tuyết” vừa mỏng manh, vừa trong suốt, dịu dàng để chỉ “linh”, hàm ý thể hiện tâm hồn trong sáng, thuần khiết của kiều diễm, thiếu nữ đang tuổi thanh xuân, đóa hồng trần chưa động lòng. Tuy có những vẻ đẹp bình thường như vậy nhưng Kiều và Vân vẫn có những nét đẹp riêng từ ngoại hình, khí chất, tâm hồn như Nguyễn Du đã chỉ ra trong câu thơ “mỗi người một vẻ”. , Muốn nói là khó phân biệt tài năng của hai chị em, tuy rằng kiều nữ là nhân vật chính nên có phần nổi bật hơn. để làm nổi bật vẻ đẹp của thủy kiều, nguyễn du đã rất tinh tế và khéo léo trong việc lựa chọn cách miêu tả đầu tiên là thủy văn. mô tả ngắn gọn về thuy van gồm có 4 dòng:

    “Vân trang nghiêm khác với trăng rằm đủ các nét nở, nụ cười, trang nghiêm như ngọc, mây mất nước, tóc tuyết nhường màu da”

    Nhìn chung, có thể nói vẻ đẹp của thùy văn là vẻ đẹp chuẩn mực trong xã hội phong kiến, đại diện cho dáng người có phúc khí, số mệnh an nhàn, cuộc sống an nhàn. cuộc đời không phải chịu nhiều sóng gió. Có lẽ duyên số đã gắn liền với việc trở thành một tiểu thư quyền quý, chính vì vậy mà Nguyễn Du miêu tả thần thái của nàng bằng hai chữ “trang trọng khác người”, đó là vẻ đẹp kiêu sa, sang trọng mà không phải bất cứ người con gái nào cũng có được. “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, trong quan niệm thẩm mỹ xưa, người có khuôn mặt tròn như thùy mị là người có phúc khí. không chỉ vậy, hình ảnh quy ước “trăng” còn bao hàm sự thuần khiết, ngọt ngào và nhã nhặn của người con gái. Ngoài khuôn mặt tròn trịa, nhân hậu, Thụy Vân còn may mắn có “nét đẹp của ông trời” là đôi lông mày đậm, rõ nét và rộng, là nét đẹp và cũng là nét phúc tướng trên gương mặt. nó cho thấy van là người hiểu biết lễ độ, độ lượng và nhân hậu trong cuộc sống. đó là về khuôn mặt và lông mày, đối với nụ cười và giọng nói của thủy văn, nguyễn du cũng đặt cho những cụm từ rất đẹp và tao nhã: “hoa cười đẹp”. nụ cười của cô tươi như hoa nở, cảm giác vui vẻ, tươi sáng và nhẹ nhàng. và giọng hát trong sáng, thuần khiết và ấm áp như ngọc, nên có người nói mỹ nữ phải có giọng hát hay, nếu hợp với thuy văn quả không sai. và tổng kết lại giữa những trận cười, giọng ca ấy dành cho thuy đi hai từ “bình yên” thật xứng đáng. vẻ đẹp của thùy văn vẫn được miêu tả bằng câu “mây mất nước, tuyết nhường màu da”, mái tóc như mây, mái tóc dài đen nhánh, từ đó ta cũng có thể suy ra một chút nhân cách của anh văn mặc dù nguyễn du không đề cập đến. nó là biểu tượng của một cô gái dịu dàng, điềm đạm, yêu đời và trung thành. và ý nghĩa “tuyết sinh sắc da” có lẽ không thể chối cãi, lấy màu tuyết để chỉ màu da, da trắng như tuyết, đó là vẻ đẹp mỹ miều sánh ngang với thiên nhiên, đó là phúc của bạn v.v. tóm tắt qua bốn câu thơ miêu tả vẻ đẹp của nàng thùy văn, nguyễn du đã dùng nghệ thuật thư pháp ước lệ tượng trưng qua những hình ảnh rất uyển chuyển, nhẹ nhàng như “trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết” để gợi nên vẻ đẹp của người con gái đó là vẻ đẹp quý phái. không quá sắc sảo, nhưng hay và dễ mến, gợi cho người đọc cũng như điềm báo về cuộc sống bình lặng và êm đềm của cô.

    Không giống như nàng thùy văn, khi tả nàng kiều diễm sử dụng tám câu thơ để nói lên vẻ đẹp của nàng, với số câu gấp đôi ta có thể thấy nàng kiều diễm là một vẻ đẹp hiếm có, bởi vì so với nàng thùy văn, người con gái đã. đẹp nhưng chỉ cần bốn dòng thơ đã tóm gọn lại cô đọng, sắc thắm rõ ràng đã ở một đẳng cấp khác của vẻ đẹp. ta có thể thấy rõ hàm ý này của nguyễn du qua hai câu thơ đổi “Kiều càng sắc càng mặn / so tài thì hơn”.

    “vào mùa thu thủy, sắc xuân tranh ghen, liễu kém xanh, một hai khuynh thành, đành phải nhờ đến tài vẽ, hai trí thông minh vốn dĩ thiên phú, hỗn tạp. với nghệ thuật hội họa, chỉ là mùi của ca hát, tụng kinh, khiêu vũ và các nghề. Hãy phá vỡ một chương ”

    so với thủy văn, thủy kiều dường như đã sử dụng ngày càng triệt để hơn phương thức ước lệ tượng trưng. nếu trong văn tác giả còn thể hiện rõ vẻ đẹp của từng bộ phận trên cơ thể rồi so sánh với tự nhiên, thì ở thủy kiều gần như nguyễn du chỉ gợi ý một chút, dùng ngòi bút chấm phá để người đọc tự suy nghĩ. của kỳ lạ. “mùa thu nước” có nghĩa là để chỉ đôi mắt trong như nước mùa thu, rung động nhẹ nhàng, nhưng đôi mắt thủy chung, và mùa thu gợi cho chúng ta một vẻ đẹp tuyệt vời, mờ nhạt và rất lãng mạn. mà còn cho thấy người có đôi mắt đó là người đa sầu, đa cảm, cũng là người có cuộc đời trắc trở, số phận đào hoa. tương tự như “xuân sơn”, tức là chỉ lông mày đẹp như núi xuân, khiến người ta liên tưởng đến lông mày lá liễu, mảnh, cong, mang lại vẻ xuân sắc cho cả khuôn mặt, cũng là một nét đẹp. nhân vật tốt bụng của một người phụ nữ. nhưng sao không so sánh nó với những sự vật khác mà lại gợi đôi mày kiều bằng hình ảnh núi non cũng khiến ta phải suy ngẫm. có thể giải thích rằng đó cũng là ám chỉ cuộc sống ở nước ngoài, hiểm trở như hình núi, lên xuống khó có ngày bình lặng. Đó là về đôi mắt, để nói về vẻ đẹp của kiều nguyên du cũng có câu “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, tuy không phân tích nhưng nhìn từ bề ngoài ta cũng dễ dàng nhận thấy. thuy kieu. Cô là một cô gái có vẻ đẹp rất sắc sảo, mặn mà khác hẳn với vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng của Thụy Vân. so với “sắc thủy, đặc sắc xuân sơn”, câu thơ này càng mơ hồ hơn. không rõ vẻ đẹp của thuy kiều nguyễn du muốn thể hiện là gì. tuy nhiên từ “trầm” có lẽ tác giả muốn miêu tả vẻ đẹp của đôi môi nàng, môi đỏ như son, thậm chí là hoa ghen tị vì không tươi bằng môi nàng. một cách hiểu khác, có thể “đi sâu” hơn ở đây chính là vẻ đẹp trời cho, tuyệt vời và đằm thắm của hoa thủy tiên mà không loài hoa nào có thể sánh được. cái cách này khiến chúng ta liên tưởng đến một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa cổ đại, yểu điệu thục nữ với vẻ đẹp “hoa của ngươi”, thậm chí hoa còn xấu hổ vì không giống ai. ý “liễu kém xanh” lại càng độc đáo trong nghệ thuật miêu tả ước lệ nguyễn du, ai cũng biết liễu nổi tiếng mềm mại, hiền lành, nhưng so với kiều thì phải hối hận vì “kém xanh. . ở đây xanh có nghĩa là sức sống, sự cứng cỏi, cũng có nghĩa là gợi lên dáng vẻ uyển chuyển diệu kỳ, mềm mại, dẻo dai so với liễu cũng chỉ hơn của thủy kiều mà thôi. nên so với nàng thùy vân, vẻ đẹp của nàng thùy kiều còn được gợi ra qua dáng người mềm yếu, nhưng có lẽ nghĩ sâu hơn chúng ta mới hình dung được thân hình tuyệt vời của nàng. Tuy không miêu tả rõ Kiều là Thúy Vân nhưng Nguyễn Du đã dành hai câu thơ để nhấn mạnh vẻ đẹp của Kiều “một nghiêng nước nghiêng thành / Có sắc ắt có tài vẽ hai”, để nói đến vẻ đẹp của Kiều. kiều có lẽ không khác gì những thi nhân phương tây, điệu tàu ngày xưa, hồng nhan sơn thủy, nghiêng nước nghiêng thành là có thật. và quả thực, Kiêu cũng khiến một người đàn ông tưởng chừng như từ bỏ một vương quốc và cuối cùng rơi vào kết cục không thể cứu vãn.

    Đặc biệt, thủy kiều có vẻ đẹp nổi bật hơn không chỉ ở nhan sắc mà còn ở tài năng, tôi nghĩ rằng nguyen du có tư duy cầu tiến, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của xuất thân. Các nhà Nho cho rằng phụ nữ không cần quá xuất sắc mới có phúc và đại diện cho mẫu người này là thùy mị, trong khi phụ nữ vừa xinh đẹp vừa tài giỏi thường kém may mắn. Chính vì vậy mà Nguyễn Du đã xây dựng hình tượng người Việt kiều với nhan sắc xinh đẹp và đẳng cấp thiên tài trong các cuộc thi, ca, nhạc, họa. nàng là một cô gái thông minh, học mười biết mười, đặc biệt với món ăn piêu thì tay nghề của nàng lại càng xuất sắc. “Cuồng thường ngũ âm giai điệu”, bạn có thể tự sáng tác âm nhạc, sáng tác những bài hát hay, nhưng có lẽ như điềm báo về một kiếp người, làm chủ được cây đàn pi-a, cây đàn vốn đã giỏi lại xuất hiện ở một nơi phong cùi. , quãng giọng rộng, giữ phổ chủ yếu là những nốt trầm buồn, u ám. ngay cả việc chính kiều nữ cũng viết nên bản “bạc mệnh”, một bản buồn và hụt hẫng, đã phần nào cho thấy cuộc đời đầy sóng gió của một trang mỹ nhân.

    “rất sành điệu, quần hồng, xuân xanh, tuần sau cận kề rồi. Muộn rồi, màn đầy ong bướm, về nhà mặc vào đi”

    Những câu thơ cuối lại miêu tả hoàn cảnh sống của hai chị em, đều sinh ra ở nước ngoài nên cuộc sống cũng được coi là khá giả, “giàu sang” sống trong lụa là gấm. kiều và văn sắp đến tuổi lấy chồng, cận kề tuổi kết hôn, trước khi sóng gió ập đến, chị em “khôn lớn thì vén màn”, cuộc sống cứ bình yên, hạnh phúc. Dù đã trưởng thành nhưng cả hai vẫn rất cao quý và trong sáng. yêu “ong bướm”, hải ngoại vân vân, chưa từng nếm trải nhưng vẫn giữ nếp gia phong.

    đoạn văn “chị em thủy chung” là đoạn văn thể hiện rõ tài năng tả người bậc thầy của Nguyễn Du qua những ước lệ tượng trưng, ​​chỉ gợi, vẽ bằng nét cọ chấm phá, để người đọc tự khám phá hình tượng nhân vật. Đồng thời, đoạn trích còn thể hiện tư duy nhân đạo của Nguyễn Du khi rất trân trọng và tế nhị, tỉ mỉ vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều. đặc biệt ở nhân vật ngoại, cô không chỉ khai thác vẻ đẹp hiếm có mà còn tô vẽ nên vẻ đẹp tài năng, trí tuệ và nội tâm để làm nổi bật hình ảnh một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng kém may mắn.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 6

    Nguyễn Du (1765 – 1820) sinh tại Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. ông là nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân của văn hóa thế giới. một trong những tác phẩm thành công của ông ở mảng du mục là “Đoạn trường tân thanh” hay còn gọi là “truyện kiều”. truyền kỳ không chỉ có nội dung sâu sắc mà còn rất thành công về mặt nghệ thuật. tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả nhân vật là đoạn trích “chị thủy chung”. Đoạn trích đề cao vẻ đẹp của con người, đặc biệt là người phụ nữ qua việc miêu tả tài năng và sắc đẹp của chị em Thúy Kiều. Đây là đoạn trích thể hiện sâu sắc cảm hứng sáng tác của Nguyễn Du.

    Bốn dòng đầu của bài thơ tác giả trình bày khái quát về hương sắc và vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều:

    “hai vị tiên nữ, thủy kiều là chị, em là thủy văn. mai là phong cốt, phong tuyết, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

    giới thiệu hai ‘bóng ma’ ngắn gọn và đơn giản, đầy ấn tượng. trong gia đình vường có hai cô con gái đầu lòng xinh đẹp như “hung”. và câu thơ “‘xương cốt, tuyết linh’ ‘bằng cách sử dụng ước lệ tượng trưng qua hai hình ảnh” mai “,” tuyết “, tác giả đã gợi lên trước mắt chúng ta vẻ đẹp của hai cô gái với dáng người mảnh mai, thướt tha như một cây mai kiêu sa. và loài hoa cao quý, tâm hồn họ trong trắng như tuyết, đều vẹn toàn “mười phân vẹn mười”, mỗi người có một vẻ đẹp riêng “mỗi người một vẻ”, đó là cái nhìn trân trọng, nâng niu của tác giả.

    chuyển sang bốn câu thơ tiếp theo, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của thùy văn.

    “Vân mặc trang nghiêm khác, trăng rằm, khuôn mặt tươi cười, ngọc ngà trang nghiêm, mây rụng tóc, tuyết nhường màu da”

    Dòng đầu tiên “bất kể sự trang trọng” tóm tắt các đặc điểm của nhân vật. Hai chữ “trang trọng” gợi vẻ đẹp thanh cao, quý phái của Thuý Vân, có thể nói biết bao nhiêu vẻ đẹp của tạo hoá, thiên nhiên đã mượn Nguyễn Du để tạo nên bức chân dung Thuý Vân. Đó là “trăng, hoa, tuyết, ngọc, mây” – trong thư pháp thông thường, thư pháp liệt kê, vẻ đẹp của đường vân được cụ thể hóa trên khuôn mặt, mày, tóc, làn da, nụ cười, giọng nói của tác giả. đặc biệt trong việc sử dụng các từ làm nổi bật vẻ đẹp của đối tượng được miêu tả: “đầy đủ”, “hoa” và “tươm tất”. Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân cách hoá nhằm thể hiện vẻ đẹp quý phái, thanh lịch của người thiếu nữ. Một nàng thủy chung với khuôn mặt đầy đặn và dịu dàng như trăng rằm, lông mày sắc như bướm đêm, nụ cười tươi như hoa, giọng nói trong như ngọc, tóc mềm hơn mây, da trắng hơn tuyết. vẻ đẹp ấy khiến người ta phải trầm trồ trước thiên nhiên “mây mất”, “tuyết rơi”. hai chữ “thua” và “từ bỏ” thể hiện sự hài lòng mà không ghen tị, điều này dự báo rằng bạn sẽ có một cuộc sống bình lặng, êm đềm, không có sóng gió.

    nếu bạn miêu tả thủy văn có bốn câu, thì thủy kiều nguyên du sẽ cho bạn mười hai câu. Nếu như văn được miêu tả là vẻ đẹp hoàn mỹ thì thùy kiều còn hơn cả sự hoàn mỹ đó, nếu văn nguyễn du chỉ để chỉ nhan sắc thì kiều vừa đẹp vừa tài, đó là vẻ đẹp của vẻ đẹp sắc sảo của thiên hạ.

    “Kiêu thì mặn hơn, so với tài là hơn”

    ở đây, nguyen du rất thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đòn bẩy. tả vân trước để làm nền cho vẻ đẹp của kiều. Chỉ bằng một câu thơ với các điệp từ “càng”, “càng”, tác giả đã giúp người đọc hình dung được vẻ đẹp khác thường của cây kiều. Cô không chỉ xuất sắc về nhan sắc mà còn sắc sảo về trí tuệ, mặn mà trong tâm hồn.

    “nước thu, xuân sơn, hoa ghen thua thắm liễu xanh”

    Khi miêu tả phong thủy, tác giả vẫn sử dụng lối thư pháp thông thường thông qua các hình tượng thiên nhiên “thu thủy”, “xuân sơn”, “hoa ghen”, “liêu trai”. chỉ có điều là nguyễn du không liệt kê nhiều chi tiết như vậy, chỉ tập trung vào đôi mắt. hình ảnh ước lệ “mùa thu” gợi lên đôi mắt đẹp của người Việt kiều trong veo như làn nước thu, “núi xuân” gợi lên đôi lông mày thanh tú trên khuôn mặt trẻ trung, đôi mắt kiều ấy là cửa sổ tâm hồn, thể xác và tâm hồn. của tâm hồn, mặn mà của tâm hồn. màu của kiều khiến người ta ngưỡng mộ say đắm đến nỗi lầm lỗi có thể “mất nước, mất thành”, thiên hạ sinh lòng ghen ghét, đố kỵ “hoa ghen”, “liễu hờn”.

    xinh đẹp là vậy, còn tài năng và yêu kiều thì sao? Trong cách miêu tả phong cách của tác giả, tác giả dành một phần nói về vẻ đẹp và hai phần nói về tài năng. đây là dụng ý nghệ thuật của nguyễn du. Tôi muốn nhấn mạnh vẻ đẹp của kiều, không có cách nào diễn tả được. về nhan sắc thì kiều diễm số một, nhưng về tài năng thì có thể có người thứ hai trên thế giới:

    “Kỹ năng cần một, tài năng có thể vẽ hai”

    Kiều nữ sinh ra đã có trí tuệ bẩm sinh, tài năng thiên bẩm. tài năng của anh ấy đạt đến sự hoàn hảo theo quan niệm thẩm mỹ bao gồm “giao, thi, thi. họa”

    “bản chất thông minh vốn có, dung mạo văn thơ, sơn thủy mùi mẫn ca hát. Cung thương ngang tàng ngũ âm, nghề riêng ăn nên làm ra”

    Đặc biệt, tài năng của anh là nổi bật nhất: khỏe, giọng hát hay đến mức có thể nuốt chửng bất kỳ nghệ sĩ tài năng nào trên thế giới. Kiều không chỉ chơi đàn hay mà còn giỏi sáng tác nhạc, đến nỗi anh còn có thể sáng tác cho riêng mình một ca khúc có tựa đề “Bac Destino”. Mỗi khi anh ấy tấu lên đoạn đó đều khiến lòng người xót xa, người nghe nhíu mày khóc. cung đàn “bạc mệnh” là bản ghi lòng của một trái tim đa sầu đa cảm.

    vẻ đẹp của kiều nữ là sự tổng hòa của sắc đẹp, tài năng và tình yêu, một vẻ đẹp vượt qua khuôn khổ khiến tạo hóa phải ghen tị.

    “Hoa ghen thua liễu, kém xanh”

    Từ việc thể hiện một bức chân dung duyên dáng, tác giả dự đoán một số phận đầy biến động và đau thương, một tương lai chìm đắm sẽ đến với cô. Tuy tài năng của thủy kiều và thủy văn khác nhau, tiên đoán tương lai cuộc đời khác nhau nhưng đức độ của cả hai đều đáng trân trọng, được thể hiện qua bốn câu thơ cuối:

    “phong rất đỏ, tuần sau đến rất gần mùa xuân. yên tĩnh, rèm cửa khép kín, tường nhiều ong bướm”

    Dù đã đến tuổi lập gia đình nhưng “bà mẹ hai con” vẫn sống nề nếp và được giáo dục tốt, cuộc sống của những cô nàng yêu tinh không yêu đương là không đúng mực.

    như vậy với hai mươi bốn dòng trong đoạn trích “Chị em thủy chung” là một trong những đoạn thơ mẫu mực về nghệ thuật tả người. sử dụng ước lệ tượng trưng, ​​đòn bẩy, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, ẩn dụ. tác giả đã khắc họa hai thiếu nữ với tất cả vẻ đẹp, tài năng, tình yêu và số phận. ẩn sau bức chân dung của chị em Thủy kiều là lời ca ngợi trân trọng của tác giả: đó là biểu hiện của tinh thần nhân văn trong lịch sử của kiều, qua đó ta hiểu và trân trọng hơn vẻ đẹp của con người, nhất là người phụ nữ.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 7

    Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” trong Truyện Kiều đã miêu tả vẻ đẹp riêng biệt của hai người con gái nhà họ Vương, vẻ đẹp chung của chị em Thúy Kiều, cũng như vẻ đẹp của mỗi người được Nguyễn Du khắc sâu. tìm hiểu rõ ràng với các quy ước tượng trưng.

    trước hết nguyễn du xin giới thiệu nét đẹp chung của hai chị em trong gia đình:

    “Đầu tiên của hai người phụ nữ, thủy kiều là thủy văn và thủy chung là thủy văn”

    Dưới đây, tác giả giới thiệu đôi nét về vẻ đẹp chung và riêng của hai chị em:

    Xem thêm: Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo. Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận nhận định trên. – Thế giới văn mẫu

    “xương tuyết cùng tinh thần chia lìa, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

    Với lối viết so sánh thông thường, vẻ đẹp thân thể (bộ xương) và vẻ đẹp tâm hồn (tuyết tinh thần) của hai chị em được tôn lên một cách hoàn mỹ. cả hai đều đẹp mười phần rưỡi. trong cái đẹp chung đó có cái đẹp của mỗi người, mỗi người một vẻ. ngoại trừ câu đầu, ba câu sau đều chia thành hai phần dẫn dắt người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của mỗi người. bốn dòng đầu là phông nền để từ đó tác giả dẫn dắt người đọc lần lượt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của mỗi người.

    Trong bốn câu sau, tác giả miêu tả vẻ đẹp của thủy chung: một con người nhân hậu, đoan trang. cô ấy có một vẻ đẹp thanh lịch và quý phái tuyệt vời. vốn là một phong cách nghệ thuật truyền thống thông thường, nhưng vẻ đẹp của thủy văn được thể hiện một cách cụ thể: “khuôn trăng rằm nở, hoa cười ngọc điểm, mây mất nước, tóc tơ. tuyết nhường màu da ”. Vì khuôn mặt, nét mặt, điệu cười, giọng nói, mái tóc, làn da của cô ấy, chúng được so sánh với “trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết.” nhờ đó vẻ đẹp của thùy văn dần được bộc lộ theo bút pháp ẩn dụ, nhân hoá tài tình của tác giả. vẻ đẹp của thủy vân là sự gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên.

    nếu miêu tả nàng thùy văn là vẻ đẹp hoàn mỹ thì vẻ đẹp của nàng thùy kiều còn hơn cả sự hoàn mỹ ấy: “càng sắc sảo mặn mà”. đây là một thủ pháp nghệ thuật từ văn học cổ đại. từ vẻ đẹp của thùy văn, nguyễn du chỉ cần giới thiệu một câu: “kiều diễm càng thêm sắc sảo mặn mà” thì vẻ đẹp của thủy chung đã vượt qua vẻ đẹp của thùy văn (xảo quyệt) và tâm hồn (mặn mà). miêu tả đầu tiên là sự phù phiếm, sau đó là tả cảnh, sau đó là cách tác giả mượn chiếc xe van để rời bến. Qua vẻ đẹp của sơn mạch, người đọc hình dung ra vẻ đẹp của cái kiều.

    trong văn phòng tác giả không có miêu tả đôi mắt, còn ở bản khác tác giả miêu tả đôi mắt. vẫn là nghệ thuật tượng trưng, ​​kiều diễm được so sánh với: “mùa thu nước, bức tranh mùa xuân”. sự sắc sảo mặn mà của đôi mắt là biểu hiện của vẻ đẹp tâm hồn. Vẻ đẹp của thủy chung là vẻ đẹp đoan trang, nhân hậu, thiên nhiên sẵn sàng chịu thua, nhường nhịn, còn vẻ đẹp của kiều là vì thiên nhiên.

    tác giả khen ngợi thủy kiều là một thiếu nữ xinh đẹp, không chỉ vậy, tài sắc vẹn toàn, trên đời này không có người thứ hai bằng nàng:

    “bản chất bẩm sinh thông minh, văn thơ, đầy hương sắc hát xướng, ngâm thơ, hát múa lầu ngũ âm, nghề riêng mộ thiên hồ, cầm ca nhà, chọn tấu chương”

    tiêu chuẩn của hiền tài ngày xưa hội tụ: “cầm, tra, khảo, sơn”, thủy chung có đủ, không chỉ biết mà còn đạt đến trình độ khiến người khác phải nể phục. trong đó, anh đặc biệt vượt trội về khả năng “cầm trịch”. cung đàn do một thiếu nữ đa cảm, đa sầu đa cảm, có lẽ bài hát do cô sáng tác thời trẻ là sự sắp đặt của số phận, báo trước một tương lai xa bình yên:

    “xui xẻo còn não tàn hơn”

    Với tất cả những tài năng và phẩm chất mà bạn có, sự thật là cuộc sống bình lặng ngày nay, dưới lòng đất lặng lẽ đang chuẩn bị cho phong ba bão táp. trong dân gian xưa cũng có câu: “tài bao nhiêu thì trời đất ghen tị bấy nhiêu” hay “chữ tài đi liền với chữ tai, một vần”.

    khép lại đoạn trích, nguyễn du một lần nữa tái hiện lại cuộc sống thường ngày êm đềm của hai chị em thủy vân và thủy kiều:

    “phong thanh tao nhã, xuân rất xanh, xuân cận tuần kê, tĩnh mịch, màn trướng ong bướm, về nhà dùng đi”

    sống có chừng mực, ở thế “treo khăn che mặt”, hai chị em đang đến tuổi tìm chồng cho mình, nhưng có lẽ chữ “dụng” ở câu thơ cuối đã thể hiện thái độ thùy mị, nết na. , đừng nghĩ về những người ở đó.

    Tóm lại, đoạn trích “chị em thủy chung” đã khắc họa được vẻ đẹp của thủy chung và thủy chung. Qua đó, chúng ta thấy được nghệ thuật diễn xướng đặc sắc của Nguyễn Du.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 8

    nguyễn du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Cho đến nay, “Truyện kiều” của ông vẫn được coi là một tác phẩm thơ xuất sắc của nền văn học dân tộc. trong đó, nguyễn du thể hiện tài năng bậc thầy về nhiều mặt, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng nhân vật. hầu hết các bức chân dung được thể hiện một cách sống động và đầy sức sống. Chỉ có thể thấy rõ điều này qua đoạn trích “Chị em thủy chung”.

    Ở bốn dòng đầu, nhà thơ không miêu tả mà khái quát vị trí thứ bậc và vẻ đẹp không thể tách rời của hai người phụ nữ:

    “hai nữ đầu, ngahuy kiều là chị em, thuy vanmai, mỗi người một vẻ, mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”

    “a” là cái mà mọi người gọi là nghệ thuật với các chị, các cô. còn “thè nga” là quy ước chỉ vẻ đẹp rạng ngời của người thiếu nữ. bên cạnh ước lệ “thang” có hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho “hạc xương mai”, “tuyết linh” gợi hình dáng mảnh mai, thanh cao tựa hoa mai. “tuyết linh” là tâm hồn trong sáng, trong trắng như tuyết. Nguyên du cũng giới thiệu về gia thế và thứ bậc, trong đó nàng là Thủy kiều, mình là Thủy văn với nhan sắc và phẩm cách “mỗi người một vẻ”.

    nhập mô tả chi tiết về hai bức chân dung của phụ nữ ở nước ngoài, v.v. nguyễn du lần đầu tả chân dung thủy văn:

    <3

    “trang trọng” là một tính từ tiếng Việt chỉ vẻ đẹp của phong cách; “Nhân phẩm” gợi ra vẻ đẹp của phẩm giá và lối sống. Thụy Văn có phong thái sang trọng, quý phái, tính cách hiền lành, mẫu mực và đoan trang – đây là một vẻ đẹp bình thường của một chàng trai xuất thân trong một gia đình giàu có. khuôn mặt của thuy van tròn, đầy đặn, sáng đẹp như trăng rằm. lông mày thanh tú, mềm mại và sáng bóng. nụ cười xinh tươi, rạng rỡ như hoa. giọng nói trong trẻo, lời nói đẹp như ngọc và ngọc. tóc mềm như mây. da trắng, mềm hơn tuyết…

    với thuy văn, nhìn chung độc giả cảm nhận được một vẻ đẹp nhân hậu và dịu dàng. Dù ít ai có thể so sánh được nhưng vẻ đẹp của cô vẫn sắc nước hương trời, hiền hòa, hòa hợp với thiên nhiên:

    “mây mất nước, tóc và tuyết nhường chỗ cho màu da”

    khi đối mặt với vẻ đẹp của nàng thùy vân, bản chất “mất đi”, “chịu thua” – tự ti mà không có xung đột. Vẻ đẹp ấy có báo trước một cuộc sống bình lặng, yên ả, không giông bão không?

    nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, ​​nhân hoá mà tác giả sử dụng thật đắt giá. góp phần tạo nên những bức chân dung sống động và chân thực.

    nguyễn du miêu tả vẻ đẹp của thủy kiều với dụng ý nghệ thuật độc đáo:

    “Kiêu càng sắc và bén, họ càng tài giỏi”

    vì vậy, qua việc miêu tả thủy chung, tác giả đã dùng vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng của nàng làm nền để tôn lên vẻ đẹp mặn mà, sắc sảo và “hơn” của người phụ nữ ngoại quốc. Đặc biệt hơn, Kiều không chỉ xinh đẹp mà còn là một mỹ nhân tài sắc vẹn toàn.

    “vào mùa thu, mùa nước nổi, vẻ đẹp của bức tranh xuân thì ghen tuông, liễu kém xanh”

    Sử dụng hình ảnh thiên nhiên và nghệ thuật thông thường, nét vẽ của nhà thơ gợi lên ấn tượng chung về vẻ đẹp siêu phàm. Trong việc miêu tả vẻ đẹp của ngoại, nhà văn nhấn mạnh đến đôi mắt bởi đôi mắt vừa là vẻ đẹp của ngoại hình, vừa là sự tinh tế của tâm hồn và trí tuệ. nếu như vẻ đẹp của thủy chung đã “lạc trôi” trước thiên nhiên, “để nàng” thì với tuyệt sắc giai nhân, thiên nhiên lại phải “ghen”, “ghét”. Với cách miêu tả này, Nguyễn Du đã dự báo cho người đọc tương lai đầy chông gai và bất trắc của người phụ nữ ở nước ngoài.

    Thuý kiều cũng là một mỹ nhân “tài sắc vẹn toàn”. Cô không chỉ là một người đẹp nổi bật về ngoại hình, trí tuệ mà còn là một người tài giỏi và rất mực: “cái đẹp cần một cái tài vẽ hai cái”:

    “thông minh vốn có bản tính sơn thủy, mùi mẫn, ca ca, ca ca, ca ca, ca ca, ca ca, ăn chương hồ đồ”

    Thủy kiều tài giỏi trong mọi việc: nhiệm kỳ, thi cử, khảo hạch, vẽ vời. trong đó, nổi bật là tài năng. Tài năng của Kiều đạt đến mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mỹ của xã hội phong kiến ​​đương thời.

    chỉ bốn câu thơ, nhưng nguyễn du đã gợi lên được sự ưu tú, tài hoa của kiều nữ. “cung đàn bạc mệnh” sáng tác của Thủy kiều – là bản ghi âm của trái tim đa sầu đa cảm. vẻ đẹp của kiều nữ là sự kết hợp hài hòa giữa sắc đẹp – tài năng – tình yêu.

    Bốn dòng cuối là lời nhận xét của Nguyễn Du về cuộc đời hai chị em “khăn gói, gấm vóc”. đó là một cuộc sống vô cùng giàu sang, dù đã đến tuổi “xế chiều” – cái tuổi trâm anh thế phiệt, bà vẫn sống dưới sự đùm bọc của gia đình.

    Với nghệ thuật miêu tả con người độc đáo, ước lệ tượng trưng và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ dân tộc một cách điêu luyện, Nguyễn Du trong đoạn trích đã khắc họa một cách sinh động chân dung của hai chị em ở nước ngoài, mỗi người mang một vẻ đẹp riêng. các bức tranh vừa hài hòa vừa tương phản.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 9

    nguyễn du là một trong những tác giả lớn của nền văn học Việt Nam. ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng nổi tiếng nhất là Sử ký. đọc “truyện Kiều”, hẳn độc giả sẽ ấn tượng với đoạn trích “Chị em Thủy Kiều”.

    Đoạn trích “Chị em nhà Thủy” được tìm thấy ở đầu tác phẩm và giới thiệu về gia đình Thủy kiều. Khi trình bày, tác giả tập trung miêu tả tài sắc vẹn toàn của Thuý Vân và Thuý Kiều. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” miêu tả vẻ đẹp và tài năng của chị em Thúy Kiều, cũng như điềm báo của Nguyễn Du về một kiếp tài hoa bạc mệnh.

    bốn câu thơ đầu là những lời nói khái quát nhất về chị em Thủy kiều:

    “Hai nữ đầu, ngahuy kiều là chị em, em là thuy vanmai, mỗi người một thần thái riêng, mười phân vẹn mười”

    Tác giả đã mượn ngôn ngữ thông thường để trình bày xuất thân, vị thế trong gia đình và vẻ đẹp của Thúy Kiều, Thúy Vân. họ vốn là công tử nhà họ Vường, trong đó Thủy kiều là em gái, tôi là Thủy văn. mỗi cái có một vẻ đẹp riêng. tuy nhiên, vẫn có một điểm chung là hình ảnh “mai” và “tuyết” gợi lên một nét cao quý: vẻ đẹp của thân hình thanh tao như cây mai, và tâm hồn trong sáng như tuyết. một vẻ đẹp hoàn hảo từ ngoại hình đến tính cách, tâm hồn “mười phân vẹn mười”.

    Trong bốn câu thơ tiếp theo, nguyễn du miêu tả vẻ đẹp của thủy vân:

    <3

    Ngay từ câu thơ đầu tiên, vẻ đẹp của thùy văn đã được tóm gọn trong hai chữ “trang trọng”. một vẻ đẹp thanh cao, quý phái của những cô gái quý tộc. tiếp theo là hàng loạt hình ảnh so sánh thô thiển. “Khuôn trăng tròn” gợi ý một “dàn diễn viên mang vẻ đẹp dịu dàng và nhân hậu. điểm của khuôn mặt đó là “biểu cảm tự mãn” gợi lên vẻ đẹp của đôi lông mày hơi đậm. không chỉ vậy, tác giả còn khắc họa một giọng nói và nụ cười e thẹn, dịu dàng và trang nghiêm – “hoa cười trang trí”. đặc biệt là vẻ đẹp của thùy vân phải khiến tạo hóa nhường nhịn: “mây rụng tóc, tuyết nhường màu da”. Sự miêu tả ngoại hình của thuy van như thể hiện một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho cô ấy.

    miêu tả vẻ đẹp của thủy văn trước, nguyên du để tạo sức ảnh hưởng cho người đọc thấy được sự nổi bật của thủy kiều. khi nói về vẻ đẹp, không ai có thể đánh bại cô ấy. nói đến tài năng thì cô ấy là “độc nhất vô nhị” trên thế giới. vẻ đẹp “sắc sảo” về ngoại hình cũng như “mặn mà” trong tính cách:

    “Kiêu càng sắc và bén, họ càng tài giỏi”

    trước hết, vẻ đẹp hình thể không gì sánh được:

    “mùa thu nước chảy, mùa xuân núi non, ghen tuông, liễu rũ, non xanh nước biếc”

    đôi mắt sáng trong như làn nước mùa thu, lông mày đẹp và duyên dáng như núi mùa xuân. vẻ đẹp của kiều còn khiến thiên nhiên phải ghen tị, “ghen ghét”, “căm ghét”: vẻ đẹp dường như đã vượt qua mọi chuẩn mực của tự nhiên, nó có sức làm cho đất nước phải “kính nể phục quốc”. nghệ thuật nhân hoá (hoa ghen – liễu hờn) kết hợp với điệp ngữ (nghiêng nước nghiêng thành) được sử dụng để thể hiện vẻ đẹp ngoại hình của kiều nữ. nhưng qua hình ảnh đó, tác giả cũng muốn dự báo về cuộc đời bất hạnh của người phụ nữ ở nước ngoài.

    không chỉ xinh đẹp về ngoại hình, Thúy Kiều còn rất tài năng:

    “sắc phải nhờ đến tài vẽ vời, hai trí thông minh vốn dĩ thiên phú thơ phú để đánh đàn, hát, cung, hát, nghề riêng tiêu tốn chương ca do nhà tuyển chọn, nên chương một chẵn. con người hơn ”

    bản tính thông minh vốn có, nên ở lĩnh vực nào cô cũng am hiểu: cầm – văn – thi – họa. nhưng đặc biệt nhất vẫn là ở âm thanh. anh ghi nhớ các cấp độ và chơi đàn hạc (đàn hạc cổ) một cách thành thạo. hơn thế nữa, còn hay cho việc sáng tác nhạc: “bài hát nhà tay cầm càng thăng hoa”. mỗi khi đánh đàn, anh lại cất tiếng hát “bạc mệnh” khiến người nghe không khỏi xót xa, xót xa. cây đàn hạc sinh ra từ trái tim đa cảm, đa sầu đa cảm. nó cũng dường như là một điềm báo về cuộc sống tương lai của anh ta. chân dung của thuy kiều đã mang số phận của mình vào đó.

    và bốn câu thơ cuối là cảnh sinh hoạt của hai chị em:

    “rất sành điệu, quần hồng, xuân xanh, tuần sau cận kề rồi. Muộn rồi, màn đầy ong bướm, về nhà mặc vào đi”

    thuy kieu và thuy van sống trong một gia đình giàu có và quyền quý. tuy đã đến tuổi “phúc báo” nhưng cả hai vẫn giữ vững nề nếp, nếp sống theo khuôn phép của lễ giáo thời phong kiến. việc sử dụng thành ngữ “treo tấm màn che” để chỉ lối sống kín đáo. Đó là cách sống của người phụ nữ trẻ xuất thân từ một gia đình nề nếp: trong bốn bức tường, ít giao tiếp với bên ngoài, hàng ngày học làm việc nhà. một nếp sống có kỷ luật luôn được gìn giữ dù “ong bướm kín cổng cao tường”, một ẩn dụ để chỉ những người đàn ông tán tỉnh phụ nữ mà không có mục đích tốt.

    thì qua đoạn trích “chị em thủy chung”, người đọc đã thấy được vẻ đẹp của thủy chung và thủy chung. nhờ đó mới thấy được tài năng bậc thầy của nguyễn du.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 10

    Trong thơ cổ viết về mỹ nữ, bài thơ của chị em Thúy Kiều trích trong truyện kiều nữ của đại thi hào Nguyễn Du là một trong những bài thơ hay. hai mươi bốn khổ thơ sáu và tám dòng đã vẽ nên vẻ đẹp, tài năng và đức độ của hai chị em Thuý Kiều.

    Với ngòi bút tài hoa tuyệt diệu, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung của hai đại mỹ nhân:

    hai người phụ nữ đầu tiên, thủy kiều là thủy văn và thủy văn là thủy văn.

    van là em, kieu là em. van va kieu (con gai dau tien) la nhung nguoi phu nu xinh dep, xinh dep. vẻ đẹp của hai cô gái là vẻ đẹp thanh tao của hoa mai, trong trắng và thuần khiết của tuyết:

    xương cùng tuyết tinh, mỗi người mười phân vẹn mười.

    Thư pháp thông thường và ẩn dụ đã gợi lên một vẻ đẹp hài hòa, hoàn hảo cả về hình thức và tâm hồn. Vẻ đẹp của hai cô gái đều hoàn hảo, nhưng mỗi người lại có một vẻ đẹp riêng. Nguyễn du đã lấy những gì đẹp đẽ nhất của thiên nhiên để miêu tả về hai chị em. thuy kieu và thuy van có vẻ đẹp lý tưởng, theo khuôn mẫu và vượt ra khỏi khuôn mẫu.

    sau những câu thơ giới thiệu về hai chị em, ngòi bút của nguyễn du đã đi một hướng cụ thể hơn vào bức chân dung cao quý của thủy chung:

    vâng, nó trông rất trang trọng,

    hai từ trang trọng trong đoạn thơ đã thể hiện được vẻ đẹp thanh cao, cao quý của văn. vẻ đẹp của một thiếu nữ được so sánh với những điều đẹp đẽ trên thế giới:

    mặt trăng tròn đã nở.

    chân dung của van được lột tả trọn vẹn từ khuôn mặt, lông mày, làn da, mái tóc cho đến nụ cười, giọng nói. Van có khuôn mặt đầy đặn, nhân hậu như mặt trăng, lông mày sắc nét như con trai, nụ cười tươi như hoa, giọng nói trong trẻo phát ra từ hàm răng trắng ngà, mái tóc gợn sóng hơn, làn da trắng hơn. . Hơn cả tuyết, vẻ đẹp của mây được so sánh với vẻ duyên dáng và trong sáng của những báu vật tinh khiết của trời đất. ai cũng toát lên vẻ đẹp dịu dàng, thùy mị, trang nghiêm và cao quý. van đẹp hơn vẻ đẹp của thiên nhiên mà tạo nên sự hài hoà, mềm mại: mây mất, tuyết nhường. Với vẻ đẹp như vậy, bạn sẽ có một cuộc sống bình lặng, êm đềm và một tính cách điềm đạm. Qua bức chân dung này, Nguyễn Du đã gửi gắm những thông điệp về tương lai và cuộc đời, vì vậy bức chân dung của Thúy Vân chính là bức chân dung của số phận.

    mô tả cẩn thận và cụ thể, nhưng nguyen du chỉ vẽ ở nước ngoài với những bức ký họa rõ ràng vì không muốn trở thành một họa sĩ vụng về:

    Kiều cay hơn, mặn hơn, so với tài là hơn.

    Vẻ đẹp của kiều được so sánh với vẻ đẹp đoan trang, quý phái của van để thấy được sự vượt trội về sắc vóc của tài năng trí tuệ, về sự ngọt ngào của vẻ đẹp. Không thể tả được khuôn mặt, giọng nói, điệu cười, làn da, mái tóc như thủy văn, nhưng Nguyễn Du đã rất khéo chọn đôi mắt nước ngoài để miêu tả vì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh hoa của tâm hồn và trí tuệ. :

    Xem Thêm : Trường phái Hội họa Dã thú

    mùa thu, bức tranh mùa xuân

    Câu thơ tả đôi mắt gợi lên một cảnh sơn thủy hữu tình. hình ảnh đó có nước mùa thu, nước mùa thu, bức tranh mùa xuân, hình núi mùa xuân. cũng như khuôn mặt xinh đẹp với đôi mắt trong veo, long lanh và đôi lông mày thanh tú tạo nên:

    hoa ghen tị đua với cây liễu

    Vẻ đẹp của kiều không chỉ giống thiên nhiên, mà còn vượt lên trên thiên nhiên, khiến hoa ghen, cây liễu cũng phải ghen tị. tự nhiên không còn thua nữa mà cau mày, mím môi giận dỗi mà ghen tuông vô cớ. nếu vẻ đẹp của van là vẻ đẹp thuần khiết nhất của đất trời thì kiều mang vẻ đẹp của nước non, không gian bao la và thời gian vô tận. vẻ đẹp đó uốn cong mặt nước, biến nó thành:

    một hoặc hai lần nghiêng nước,

    nguyễn du đã dùng những tấm gương tích cực để lại cho đất nước vẻ đẹp tuyệt trần của trang mỹ nhân. và cũng chính vẻ đẹp có một không hai mà phẩm chất cao quý tiềm ẩn bên trong là tài năng và tình yêu thương rất đặc biệt:

    nghề sơn hào hải vị. cung thương là bậc ngũ âm, nghề nghiệp của chính mình ăn nên làm ra.

    kiều có cả tài chạm-chạm-thi-sơn của các bậc nho sĩ, tài hoa đều đến mức điêu luyện. cô ấy giỏi luật âm thanh đến nỗi cô ấy gắt gỏng. cây đàn mà anh ấy chơi là đàn hạc, âm thanh của nó có thể giết chết bất kỳ nghệ sĩ nào và nó đã trở thành nghề của anh ấy. Để miêu tả tài năng của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng hàng loạt từ ngữ ở mức độ tuyệt đối: cố hữu, hỗn tạp, vu vơ, đầy hương sắc. Cô không chỉ hát hay, chơi piano mà còn sáng tác nhạc. thành phần cung nữ bạc mệnh. bản nhạc ấy đã ghi lại tiếng lòng của một tâm hồn đa sầu, đa cảm. nguyễn du cực để lại tài năng ca ngợi cái tâm đặc biệt của ông. Tài năng của kiều đứng trên tất cả, là biểu hiện của những phẩm chất cao quý, tấm lòng trung hậu, nồng hậu, nhân ái, vị tha. Vẻ đẹp của kiều là sự tổng hòa của sắc – tài – tình và đạt đến mức cao siêu, lý tưởng. nhưng sắc đẹp của nàng thật đáng ghen tị, liễu khiến tạo hóa phải ghen ghét ghen ghét, còn tài năng và trí thông minh thiên phú của nàng đủ để ngửi thấy sự đau khổ và tâm hồn đa cảm của nàng khó tránh khỏi sự sa ngã của số phận. Chính vì Kiều quá hoàn mỹ, hoàn mỹ nên nàng khó lòng tìm được chỗ đứng trong xã hội phong kiến ​​ấy. và cây đàn hạc bạc do chính bà sáng tác như một dự báo về cuộc đời tất yếu của người Việt hải ngoại. cuộc đời bạn sẽ có nhiều sóng gió, thăng trầm, sóng gió. như chân dung thủy vân, chân dung kiều là bức chân dung định mệnh.

    nguyễn du ca ngợi văn y kiều một vẻ mười phân vẹn mười, nhưng ngòi bút của tác giả mỗi người một khác. van chủ yếu là đẹp về ngoại hình và kiều đẹp về cả tài năng lẫn sắc đẹp tâm hồn. Điều đó tạo nên vẻ đẹp khác nhau của hai thiếu nữ và bộc lộ hai tính cách, dự báo hai cuộc đời khác nhau đang chờ đợi hai người phụ nữ. hai bức chân dung hai chị em Thủy văn và Thủy kiều đã thể hiện sự tài tình của ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du.

    ở cuối đoạn văn của người lao động có bốn câu lục bát miêu tả cuộc sống đàng hoàng và mẫu mực của hai chị em ở nước ngoài:

    rất sành điệu trong chiếc quần màu hồng, mùa xuân xanh đã đến gần vào tuần tới.

    Xem Thêm : Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân- người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp – Văn mẫu học sinh

    hai cô con gái của vương gia không chỉ có nhan sắc – tài năng – tình yêu mà còn cả đức hạnh. sống lối sống quần hồng mực. cả hai đều đã đến tuổi lập gia đình – tuổi xế chiều, trâm anh thế phiệt nhưng vẫn sống cảnh:

    thật yên tĩnh, rèm cửa được đóng lại, bức tường đầy ong và bướm.

    hai câu thơ như che chở, bao bọc hai chị em, hai bông hoa còn đang nhụy trong cảnh thanh bình, hương thơm chưa từng ai tỏa ra. Nguyễn du đã hạ màn, rũ bỏ mọi ô uế cho cuộc sống giàu sang của hai chị em để nâng cao thêm phẩm hạnh.

    Với cảm hứng nhân đạo và tài năng thơ ca, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung Thuý Vân, Thuý Kiều với những gì cao đẹp nhất. hai bức tranh thơ mỹ nhân đã thể hiện ước lệ tượng trưng và tu từ trong ngòi bút tinh tế của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 11

    đoạn trích Chị em Thủy kiều được tìm thấy ở buổi đầu gặp gỡ kinh doanh và được dành để trình bày về lịch sử gia đình của Thủy kiều. Giới thiệu các thành viên trong gia đình ở nước ngoài, tác giả tập trung miêu tả tài năng của chị em Thúy Kiều.

    chân dung của hai chị em Thủy kiều và Thủy văn được miêu tả bằng lối viết thông thường:

    Trong hai nguoi phu nu, thuy kieu la em gai, em thuy van. mai là phong trung, tuyết tinh thần, mỗi người một phương diện, mười phân vẹn mười

    nguyen du đã sử dụng các điển tích văn học Trung Quốc (thè nga, mai trúc cách), đại từ nhân xưng (a, chị) và danh từ riêng (thủy kiều, thủy vân) để trình bày vẻ đẹp của hai chị em. họ thực sự là những cô gái xinh đẹp: thân hình mỏng manh như hoa mai, tâm hồn đức hạnh trong trắng như tuyết. biểu tượng của mai, của tuyết và truyền thống ấy đã tôn lên một cách hoàn hảo vẻ đẹp của chị em thuỷ chung một cách tỉnh táo và súc tích của tác giả. bốn câu thơ đầu đã chuẩn bị cảm hứng và tâm trạng để người đọc đón nhận vẻ đẹp riêng của mỗi người. thuy van – một cô gái có nhan sắc xinh đẹp và đoan trang. thuy van được miêu tả là có vẻ đẹp trẻ trung và tràn đầy sức sống:

    van trông khác trang nghiêm, trăng tròn, nở rộ. nụ cười của cô ấy nở. hoa cười, ngọc lan, trang nghiêm, mây rụng tóc, tuyết nhường màu da.

    bốn câu lục bát gợi tả vẻ đẹp của thủy văn. Bằng cách vận dụng nghệ thuật ước lệ, ẩn dụ, so sánh, thậm chí là cách diễn đạt kết hợp với các thành ngữ Việt Nam (hoa cười, tóc dài, tóc trắng, mây, trăng), Nguyễn Du đã khắc họa được cái cốt yếu của thành ngữ Việt Nam: Cái thú. . . Tác giả không miêu tả cụ thể khuôn mặt, mái tóc, làn da của Thúy Vân nhưng bốn câu thơ đã cho thấy vẻ đẹp duyên dáng, đoan trang của Thúy Vân. Đặc biệt, việc sử dụng điển tích văn học Trung Quốc với hình dáng trăng tròn và biểu cảm của Mr. Nguyễn du đã thể hiện tài năng của mình khi muốn thông qua sự việc này để chỉ ra một tương lai tươi sáng, một tương lai tốt đẹp, một cuộc sống bình yên chắc chắn. đến với thuy đi. hơn nữa, việc sử dụng một số tính từ chỉ phong cách, dáng người (trang trọng, trang nghiêm) và nghệ thuật điệp ngữ trong hai câu đã làm nổi bật vẻ đẹp của văn tự.

    đọc văn miêu tả ta mới thấy được tài năng và sự khéo léo của Nguyễn Du trong cách dùng từ. tuy nhiên, cách miêu tả của thủy văn chỉ là bàn đạp để tác giả miêu tả thủy kiều theo kiểu tả khách và chủ (mượn khách để tả chủ), vẻ đẹp đoan trang, nhân hậu của thủy văn được thể hiện một cách dũng cảm. trong bức chân dung của thủy kiều. :

    sắc sảo mặn mà, so với mặt sắc thì nhất: thu thủy, xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn kém xanh.

    Nếu như miêu tả thùy văn ở nhiều bộ phận (khuôn mặt, lông mày, tóc, màu da) thì khi miêu tả nàng thùy kiều lại tập trung miêu tả đôi mắt đẹp (và lông mày) của nàng. Tác giả đã sử dụng nhiều hình ảnh thiên nhiên trong sáng, đẹp đẽ dưới hình thức ẩn dụ, so sánh, thậm chí xưng tụng kết hợp với điển cố của văn học Trung Quốc (một hai ngả nghiêng nước, nghiêng thành để nói lên vẻ đẹp của thiên nhiên hữu tình). , nét tinh hoa của nàng thùy kiều được bộc lộ trong đôi mắt tuyệt vời của nàng và vẻ đẹp ấy chỉ có thể so sánh với hai vẻ đẹp tiêu biểu của thiên nhiên là sơn (xuân sơn) và thuỷ mặc (làn thu thuỷ).

    ngoài vẻ đẹp trang trọng, tác giả còn đề cao tài năng thủy chung. điều này không tồn tại trong thuy van. Nếu để tả sắc, Nguyễn Du Chi dùng bốn câu thơ thì ở tả tài sắc Thúy Kiều, tác giả đã dùng tám câu thơ. rõ ràng, đây là khía cạnh mà tác giả muốn nhấn mạnh và khắc sâu trong nhân vật của mình. thuy kieu được thể hiện là một cô gái tài sắc vẹn toàn:

    một hai thiên về thành sắc, phải cầu một, tài phải vẽ hai. sự thông minh vốn có trời phú, pha trộn nghề sơn trang mùi mẫn với nghề múa hát. cung thương, thang ngũ âm, nghề tư hồ ăn, chỉ trạch… chọn tay nên chương, một “bạc mệnh” càng nhân văn.

    qua tám câu thơ tả tài năng và số phận của nàng thùy kiều, ta thấy nàng là một người con gái giỏi đàn, khí, thi, họa, hát và rất điêu luyện với đàn hạc. Bản nhạc của chàng và bài hát Phận bạc do Thúy Kiều sáng tác không chỉ chứng tỏ tài năng của chàng mà còn là điềm báo trước một tương lai u ám và bất hạnh, một cuộc đời chông chênh sắp tới. Ở thủy kiều, tài và mệnh song hành, không chỉ khi tài mới bộc lộ, mà ngay trong việc miêu tả vẻ đẹp của kiều, nguyễn du cũng đã báo trước cho người đọc qua những từ như “ghen”, “hận”, “nghiêng nước nghiêng thành”. “,” nghiêng thành “đã làm nổi bật sự bất an trước vẻ đẹp và tài năng của nàng Thủy Kiều.

    Đoạn trích Chị em thủy chung đã khắc họa một nhân vật có nhan sắc, tài năng và phẩm giá cao đẹp. phong phú, đầy đủ nhưng đằng sau đó là một số phận thể hiện những tư tưởng triết học và thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc của dòng họ Nguyễn thi hào.

    đoạn trích Chị em thủy chung là một mẫu văn miêu tả, có phần giới thiệu chung, có phần miêu tả riêng về từng con người từ tài năng, sắc đẹp đến phẩm hạnh. ngôn ngữ súc tích, lời thơ giàu cảm xúc. các nhịp điệu như nhân cách hoá, ẩn dụ, so sánh, tương phản được sử dụng khéo léo. các loại từ ngữ như danh từ, động từ, trạng từ, được sử dụng với giá trị biểu cảm, biểu cảm cụ thể. các tác phẩm kinh điển, thơ văn chữ Hán được sử dụng hợp lý nên dù sử dụng ngôn ngữ ước lệ, tượng trưng nhưng chân dung chị em Thủy Kiều vẫn hiện lên một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu lớp 12

    Nguyễn Du là một thiên tài văn học và được coi là nhà thơ văn hóa lớn của Việt Nam. Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó tiêu biểu là tác phẩm “Đường tân thanh” mà người Việt gọi là “Truyện kiều”. trong chương trình ngữ văn 9 tập 1 có đoạn trích “Chị em thủy chung” là một trong những đoạn trích đặc sắc thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung con người của Nguyễn Du, góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm.

    Đoạn trích được tìm ở đầu tác phẩm trình bày về gia cảnh của Kiều. giới thiệu các thành viên trong gia đình ở nước ngoài, tác giả tập trung miêu tả tài năng của thủy văn và thủy kiều.

    Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya ngắn gọn (Lớp 7)

    trước hết, bốn câu thơ mở đầu là sự miêu tả khái quát về hai chị em ở nước ngoài – họ đi:

    “hai tiên nữ, thủy kiều là chị em, thủy chung là linh hồn, mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”

    nguyen du đã sử dụng lối viết thông thường và ẩn dụ để giới thiệu về hai chị em ở nhiều khía cạnh như: xuất thân, vị trí trong gia đình và vẻ đẹp (riêng – chung) của hai chị em. em. Họ là hai người con gái đầu lòng của nhà họ Vương, trong đó Thúy Kiều là chị, Thúy Vân là em. Hai chị em tuy có những nét đẹp khác nhau nhưng đều có chung một vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao và trong sáng: dáng vẻ thướt tha như cành mai; thái độ tinh thần trong sáng như tuyết (linh hồn). đó là vẻ đẹp hoàn hảo, toàn diện từ trong ra ngoài, từ ngoại hình đến tâm hồn “mười phân vẹn mười”. như vậy chỉ với bốn dòng đầu ngắn gọn, tác giả đã khái quát được những thông tin cần thiết của nhân vật, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của hai chị em. từ đó dẫn dắt cảm xúc của toàn bài, giúp người đọc thấy được cảm hứng ngợi ca con người trong bài thơ.

    Trong bốn câu thơ tiếp theo, nguyễn du tập trung vào những nét vẽ chân dung cụ thể và vẻ đẹp của các nhân vật:

    <3

    ngay dòng đầu tiên, nhà thơ đã tóm gọn vẻ đẹp và phong cách của văn bằng hai chữ “trang trọng”. cô là một vẻ đẹp quý phái, quý phái, từ tốn và nghiêm túc. Tiếp tục với việc sử dụng hình thức ước lệ, nhà thơ ví von vẻ đẹp của văn bằng những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên và vũ trụ như: “trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc”. Có thể nói, dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du, chân dung mỹ nhân của Vân hiện lên lộng lẫy, toàn diện từ khuôn mặt, đôi lông mày, nụ cười đến lời nói, mái tóc, làn da. tất cả chúng hiện lên một cách sống động, cụ thể như một hình ảnh, sắc nét trước mắt người đọc. Đó là chân dung một thiếu nữ có khuôn mặt tròn đầy nhân hậu như ánh trăng đêm rằm; lông mày thanh tú, sắc sảo như mày ngài (mày ngài mắt phượng); miệng cười tươi như hoa nở; giọng nói khi phát âm trong trẻo, ngọc ngà; tóc đen sáng hơn mây; da trắng mềm hơn tuyết. đó là vẻ đẹp bên ngoài của van với vẻ đẹp duyên dáng, hài hòa trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến ​​phải được thiên nhiên và thiên nhiên chấp nhận: “tuyết nhường”, “mây mất”. do đó giúp người đọc thấy được tính cách, số phận của nhân vật: tính cách điềm đạm, thu vén; cuộc sống: bình yên không sóng gió.

    sau khi xây dựng chân dung và nhân vật thuy văn, nhà thơ tập trung miêu tả vẻ đẹp của kiều so với vẻ đẹp của van:

    “Kiêu càng sắc và bén, họ càng tài giỏi”

    người đẹp ngoại quốc khác biệt và vượt trội hơn cả về tài năng lẫn nhan sắc. đó là sự “mài giũa” trí tuệ; “mặn” vào tâm hồn.

    mỹ nhân trước: dáng vẻ kiều diễm. họ vẫn sử dụng phương pháp ước lệ tượng trưng để lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm thước đo vẻ đẹp của con người qua chùm ảnh: “thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu”, nguyễn du đã làm được. . nhưng khi tả kiều, tác giả không miêu tả chi tiết như ở văn mà ngược lại, tác giả tập trung vào một điểm nhìn, đó là đôi mắt “nước suối và núi xuân”: đôi mắt sáng và sâu như vùng biển mùa thu; lông mày duyên dáng như núi mùa xuân. đây là cách vẽ “điểm nhãn” cho nhân vật. vì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của con người. và qua đôi mắt kiều ấy, ta thấy được tâm hồn trong sáng, sâu lắng và cuốn hút đến lạ lùng của nhân vật. vẻ đẹp của kiều là vẻ đẹp vượt ra ngoài chuẩn mực của tự nhiên và khuôn phép của người phụ nữ thời phong kiến, nên: “hoa ghen – liễu hờn”, thậm chí nghiêng mình trước kinh thành và đất nước:

    “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, nghiêng nước nghiêng thành”

    nghệ thuật nhân hoá (hoa ghen – liễu hờn) kết hợp với nghệ thuật điệp ngữ (thành ngữ: nghiêng nước nghiêng thành) có tác dụng gợi vẻ đẹp kiều diễm; và nó có tác dụng dự đoán vận mệnh và cuộc đời của bạn. bởi vẻ đẹp ấy gợi lên xung đột, bất hòa (khác với phù phiếm: hơn thua – nhường nhịn: hòa thuận, hòa thuận) nên cuộc đời của bạn chắc chắn sẽ đầy gian nan, khó khăn: “thanh lau hai lần, thanh nhàn hai lần.

    tiếp theo là mỹ nhân tài sắc vẹn toàn. Nếu như trong miêu tả văn, nhà thơ chỉ chú trọng miêu tả cái hay, cái đẹp mà không chú ý đến cái tài, cái đẹp thì trong tả kiều, nhà thơ chỉ miêu tả một phần cái đẹp, phần còn lại dành nhiều cho cái tài. >

    “Sắc bén cần một tài năng vẽ hai”

    chỉ một câu thơ mà nhà thơ đã nói đến cả vẻ đẹp và tài năng. Nếu xét về nhan sắc thì Kiều đứng số một, thì về tài năng không ai dám đứng thứ hai. có thể nói, tài năng của kiều nữ có một không hai trên thế giới. vì họ được trời phú cho trí thông minh, nên người nào cũng tài giỏi ở bất cứ lĩnh vực nghệ thuật nào: cầm – trịch – thi – họa. tất cả đều đạt đến trình độ lý tưởng hóa theo quan niệm thẩm mỹ của lễ giáo phong kiến: “trộn nghề thơ với mùi hát”. đặc biệt, tài năng của chàng Việt kiều được tô đậm trong cây đàn: “cung đàn buôn ngũ âm / Nghề riêng ăn đứt đàn hạc”. anh ghi nhớ các cấp độ và chơi đàn hạc (đàn hạc cổ) một cách thành thạo. hơn thế nữa, còn hay cho việc sáng tác nhạc: “bài hát nhà tay cầm càng thăng hoa”. mỗi khi đánh đàn, anh hát bài “bạc mệnh” khiến người nghe xót xa, xót xa. tiếng hát là tâm hồn, là tiếng đàn đã đi cùng suốt cuộc đời của những người con xa xứ, thể hiện tâm hồn buồn, xúc động và cuộc đời đầy trắc trở, bất hạnh.

    Tóm lại, chân dung của Kiều là bức chân dung về tính cách và số phận. vẻ đẹp của kiều nữ là một vẻ đẹp khác biệt với người khác nên khiến thiên nhiên phải ghen tị. Kiều tài năng vượt trội hơn người khác, nên chắc chắn rằng theo một quy luật chung của số mệnh “tài đi đôi với chữ tài” hay “chữ tài thì ắt ghét”, vì vậy cuộc đời của người phụ nữ là cuộc đời của. một người đàn ông trẻ tuổi. cuộc đời của kẻ đỏ mặt thật bất hạnh, thất thường và tàn nhẫn.

    ở đây chúng ta thấy tài năng độc đáo của nguyen du trong việc nhập vai nhân vật. Từ vẻ đẹp của bức chân dung, nhà thơ thể hiện những linh cảm về tính cách, cuộc đời và số phận của nhân vật. và mặc dù ở đầu đoạn văn, tác giả giới thiệu thủy kiều là chị, em là thủy, nhưng sau đó, nhà thơ lại miêu tả chân dung nhân vật của văn trước, kiều sau. đó là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ khi tạo ra thiết bị “đòn bẩy”. điều đó có tác dụng nhấn mạnh và làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo, nổi bật ở cả vẻ đẹp, tài năng và tình yêu của nhân vật thuỷ chung. do đó, mặc dù chúng ta sử dụng cùng một quy ước biểu tượng khi mô tả hai nhân vật, chúng ta thấy mức độ khác nhau của cường độ ở mỗi người. nhà thơ chỉ dùng bốn câu để tả hoa văn, còn lại dành mười hai câu để tả kiều; tác giả khi tả văn chỉ chú trọng tả vẻ đẹp nhưng khi tả kiều thì “nhan sắc phải xin một, tài phải vẽ hai”. tuy nhiên, mỗi nhân vật đều có vẻ rất sống động, cụ thể, chân thực, với những vẻ đẹp, tính cách và số phận khác nhau.

    bốn dòng cuối là lời bình của tác giả về cuộc đời của hai chị em Thủy Kiều:

    “rất sành điệu, quần hồng, xuân xanh, tuần sau cận kề rồi. Muộn rồi, màn đầy ong bướm, về nhà mặc vào đi”

    sau khi dựng chân dung hai chị em ở nước ngoài, văn, nguyễn du đã nhận xét chung về cuộc đời của hai người. họ sống trong một gia đình giàu có, rất khá giả và nằm trong độ tuổi sắp cho phép lập gia đình. thành ngữ “vén màn” chỉ lối sống thấp hèn, đây là lối sống của người phụ nữ trẻ xuất thân trong một gia đình giàu có, sống trong bốn bức tường, ít giao tiếp với bên ngoài để học nữ công gia chánh. . hình ảnh “con bướm” là một ẩn dụ để chỉ những người đàn ông tán tỉnh phụ nữ mà không có mục đích tốt. Và với những người như vậy, chị em ở nước ngoài không quan tâm.

    Tóm lại, sử dụng nghệ thuật thư pháp thông thường, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người, nguyễn du đã khắc họa thành công vẻ đẹp của hai chị em nhà văn – kiều. Qua ông, ta có thể thấy được nguồn cảm hứng khơi gợi vẻ đẹp, tài năng con người và linh cảm về một kiếp người đầy tài năng và bạc mệnh của Nguyễn Du.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 13

    Nguyên du nhà thơ lớn của dân tộc, nhà văn hóa nổi tiếng thế giới. Ông đã để lại một số lượng tác phẩm lớn, giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Trong kho tàng văn học đồ sộ này, chúng ta không thể không kể đến truyện Kiều, một cây bút lớn của nền văn học dân tộc. tác phẩm không chỉ hấp dẫn ở nội dung mà còn đặc sắc ở cách miêu tả chân thực và sống động về con người. Bằng những nét bút điêu luyện, chỉ bằng vài nét vẽ, anh đã dựng nên bức chân dung về tính cách và số phận của mỗi người. điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong đoạn trích “Chị em thủy chung”.

    “Chị em thủy chung” được tìm thấy ở đầu vở kịch “gặp gỡ và đính hôn”. đoạn trích không chỉ trình bày hoàn cảnh xuất thân của hai cô gái mà còn miêu tả chân dung của hai mỹ nhân xinh đẹp, mỗi người có một vẻ đẹp riêng không lẫn vào đâu được.

    ở đầu bài thơ, với bút pháp ước lệ, nguyễn du đã giới thiệu hai chị em thủy chung. kiều là em gái và tôi là van, cả hai cô gái đều là con gái của một vị vua ngoại quốc. hai người này đều có “xương cốt” vô cùng duyên dáng, yêu kiều như một đóa hoa mai thanh tú, cao quý. trong sáng và thuần khiết thái độ tinh thần “tuyết tinh thần”. chúng mang trong mình vẻ đẹp thuần khiết, mềm mại, thuần khiết. Bên cạnh việc khẳng định vẻ đẹp của mình, Nguyễn Du còn thêm vào câu thơ bình luận: “Mỗi người một vẻ. lời bình vừa thể hiện nét độc đáo vừa mang vẻ đẹp hoàn hảo của hai cô gái. chỉ với những lời giới thiệu ngắn gọn nhưng đã mang đến cho người đọc những thông tin phong phú, toàn diện, những ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp của hai người phụ nữ.

    sau khi giới thiệu hai chị em với nhau, bốn dòng tiếp theo dành những dòng đẹp đẽ nhất để miêu tả về chị:

    <3

    thuy van mang vẻ đẹp của một ứng xử trang nghiêm. từ con người anh ta toát ra vẻ đẹp nghiêm nghị, ung dung, thanh cao, quý phái. Nguyễn du tập trung miêu tả khuôn mặt của nàng: với khuôn mặt đầy đặn và sáng như trăng rằm, đôi lông mày cong hơi đậm càng làm nổi bật đôi mắt đẹp của nàng. Nụ cười của nàng lúc nào cũng tươi như hoa, giọng nói trong trẻo và duyên dáng như ngọc. tóc dài, sáng hơn mây, da mịn trắng hơn tuyết. thuy van mang trong minh ve dep xinh dep va quyen ru. vẻ đẹp của nàng rất phù hợp với tiêu chuẩn xã hội thời bấy giờ, một vẻ đẹp hài hoà với thiên nhiên. Mặc dù Nguyễn Du đã sử dụng những ước lệ tượng trưng để miêu tả vẻ đẹp của nàng nhưng nàng vẫn bị mây và tuyết “lọt thỏm”, được thiên nhiên ưu ái, bao bọc và nâng đỡ. do đó, nó cũng dự báo cuộc sống bình yên và êm ả của bạn trong tương lai.

    nếu như tả cảnh thủy chung chỉ có bốn câu, tập trung miêu tả khuôn mặt đầy đặn, nhân hậu, thì để tả cảnh thủy chung, ta sử dụng đến mười hai câu thơ, kỹ thuật đòn bẩy đã làm nổi bật vẻ đẹp của thú văn. vẻ đẹp của kiều so với van.

    Vẻ đẹp mặn mà sắc sảo: “so tài còn hơn” đã khẳng định vẻ đẹp mỹ miều của nàng Kiều. Khác với Thúy Vân chi tiết nét mặt, khi tả Kiều chỉ tập trung tả đôi mắt: “nét xuân sơn thủy”. đôi mắt trong veo, sâu thẳm như làn nước mùa thu, lông mày mềm mại, thanh tú như dáng núi mùa xuân. Không phải ngẫu nhiên mà tôi chọn tả đôi mắt, mà đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn của mỗi người, vì vậy, miêu tả đôi mắt đẹp gợi lên một tính cách phong phú, sâu sắc, sắc sảo nhưng cũng rất đa sầu, đa cảm. . vẻ đẹp của nó khiến “hoa ghen” “liễu hờn”, hai từ “ghen” và “hận” thể hiện tâm lý phẫn uất, tiêu cực, muốn tiêu diệt, loại bỏ đối phương. Vẻ đẹp của nàng vượt ra khỏi tiêu chuẩn và giới hạn, khiến vạn vật trên trời dưới đất phải ghen tị, ghen tị. đó chính là điều tạo nên một cuộc sống tương lai đầy tai ương và bão tố phía trước.

    Cô ấy không chỉ đẹp về ngoại hình mà còn có tài năng và vẻ đẹp thông minh:

    “Bản chất hội họa vốn có một cách thông minh và hội họa có mùi ca hát”

    Ở thời trung đại, người phụ nữ ít được nhắc đến như một tài năng, câu thơ cho thấy sự tiến bộ táo bạo của Nguyễn Du trong việc đề cao vẻ đẹp hình thức lẫn vẻ đẹp trí tuệ của người phụ nữ. Thủy kiều là người thông minh, sắc sảo, tài giỏi đủ thứ, trong đó tài năng là ấn tượng và nổi bật nhất. những ca khúc anh thể hiện làm xúc động lòng người, những ca khúc anh sáng tác khiến ai cũng xót xa và thấu hiểu. những bài hát đó còn thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và lãng mạn.

    Một nguyễn du đặc biệt thích miêu tả vẻ đẹp của thủy kiều. nàng đại diện cho phận người phụ nữ “hồng nhan bạc mệnh” hay như chính cụ Nguyễn Du đã đúc kết “thiêng phải có tài vẽ hai” “chữ tài đi liền với chữ tai, chữ nghĩa” hay “hồng nhan có thói trăng hoa”. . Hoa hồng đánh ghen “. Xuyên suốt tác phẩm của Nguyễn Du đã nhiều lần nhắc đến số phận nghiệt ngã của Hồng nhan bạc mệnh, sẽ gặp nhiều gian nan, sóng gió.

    bốn dòng cuối của bài thơ là nhận xét chung của tác giả về hai chị em. hai cô gái sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có. cuộc sống “êm đềm có rèm che” đầy bình lặng, không hề đụng chạm với thế giới bên ngoài. các em luôn được sống trong tình yêu thương, đùm bọc của cha mẹ. cả hai đều đã đến tuổi kết hôn, tóc tai đáng yêu nhưng vẫn rất trong sáng.

    Để thể hiện vẻ đẹp của hai chị em, nguyễn du đã sử dụng nghệ thuật ước lệ tượng trưng và hàng loạt ẩn dụ: “mây, trăng, hoa, tuyết” – những hình ảnh nổi bật của thiên nhiên để làm nổi bật. Các cô gái. Đồng thời, để làm nổi bật vẻ đẹp của Thủy kiều, nguyễn du còn sử dụng đòn bẩy, phác những đường gân phía trước và phía sau để làm nổi bật bức chân dung của Thủy kiều. hơn nữa, ông còn sử dụng nghệ thuật nhân hóa để ngầm đoán trước số phận của hai người. vẻ đẹp của thủy vân khiến thiên nhiên “chào thua, chào thua” dự báo cuộc sống của bạn sẽ bình yên, êm ấm trong tương lai. vẻ đẹp của thủy chung “hờn ghen” báo trước một cuộc đời nhiều gian truân, sóng gió.

    Với nét vẽ thông thường tượng trưng cho nét tài hoa thanh tú, Nguyễn Du đã phác họa thành công vẻ đẹp và tài năng của hai chị em Thúy Kiều. đồng thời, những bức chân dung của anh gợi lên tính cách và số phận sau này của họ. đó là những bức chân dung định mệnh. từ đó thể hiện lối viết tài tình của tác giả.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 14

    Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ Việt Nam xuất sắc cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. truyện kiều là một kiệt tác của thiên tài nguyễn.du. Là một tác phẩm có giá trị lớn về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. đoạn trích chị em nhà thủy chung được trích ở phần 1: gặp gỡ và đính hôn, trong truyện kiều nữ. đoạn trích đã tập trung miêu tả người bằng nghệ thuật đặc sắc và thành công nhất của tác giả.

    Bút pháp tả người của Nguyễn Du trước hết là một phương thức tượng trưng thông thường thường thấy trong thơ ca cổ điển. cách miêu tả của tác giả về chị em thuy kiều có phần chung tình:

    <3

    đầu tiên, tác giả giới thiệu về nhà họ Vường có hai cô con gái đầu lòng là cô em gái, cô tiểu thư là tôi, hai cô đều là một cô gái xinh đẹp. tác giả sử dụng hai ẩn dụ tượng trưng “bộ xương tuyết linh” để miêu tả vẻ đẹp của các chị kiều, dáng cao, dong dỏng, mượt mà như cây mai, nghĩ đến tình yêu. tâm hồn trong trắng như tuyết, cả hai đều đẹp, nhưng mỗi người một vẻ. dưới đây, tác giả miêu tả vẻ đẹp của thủy văn bằng những hình ảnh chọn lọc và từ ngữ tiêu biểu:

    van trông trang trọng khác hẳn vầng trăng tròn vành vạnh nở rộ.

    Đoạn thơ mở đầu giới thiệu ngắn gọn về nhân vật bằng bốn chữ “khác người, trang trọng” thể hiện vẻ đẹp thanh cao, quý phái của thủy chung. phương pháp tượng trưng thông thường với những hình ảnh quen thuộc vẫn được sử dụng nhưng cách miêu tả của tác giả đã có nhiều chỉ dẫn cụ thể về phương pháp liệt kê. cụ thể trong cách dùng từ ngữ để chỉ đối tượng miêu tả “đầy đủ và xứng đáng”, sử dụng phép ẩn dụ nhân hóa “mặt trăng, mặt cười, ngọc, mây, tuyết nhường thân”. thể hiện vẻ đẹp quý phái của thuy van. khuôn mặt tròn sáng như trăng, lông mày sắc và đậm như con thiêu thân, nụ cười tươi như hoa, giọng nói trong trẻo phát ra từ hàm răng trắng ngà, tóc đen nhẹ hơn mây, da trắng mịn như tuyết, là một nhân vật xứng đáng.

    Như vậy, Thúy Vân hiện ra như một cô gái đoan trang và tốt bụng. chân dung thuy van là bức chân dung của tính cách và số phận. vẻ đẹp của thủy vân tạo nên sự thanh bình hòa hợp với “mây trôi tuyết rơi” xung quanh nên bạn sẽ có một cuộc sống bình yên và hạnh phúc.

    sau khi tả vẻ đẹp của thủy văn, tác giả miêu tả vẻ đẹp của thủy kiều. Nếu như thùy văn được trình bày qua bốn câu với vẻ đẹp và phẩm chất, thì thùy kiều được miêu tả trong 12 câu. đây là nghệ thuật đòn bẩy làm nổi bật nhân vật chính của tác giả:

    của kiều ngày càng mặn mà so với tài thì nhất là thu thủy, xuân sắc, ghen ghét, đố kỵ, thua thiệt, hận thù, kém cỏi một hai, thủy chung khuynh thành nên phải nhờ đến tài năng mới có thể vẽ được. hai

    Cũng giống như trong phần mô tả, dòng đầu tiên tóm tắt các đặc điểm của nhân vật. kiều sắc về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. để miêu tả vẻ đẹp của cây kiều, tác giả vẫn sử dụng những hình ảnh ẩn dụ “nước thu, núi xuân”. những nét vẽ của nhà thơ có xu hướng tiêu biểu cho vẻ đẹp của một vẻ đẹp tuyệt trần. Điều đáng chú ý là khi vẽ chân dung người nước ngoài, tác giả tập trung miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt, bởi đôi mắt là hình ảnh của tâm hồn và trí óc. “mùa thu nước” gợi vẻ đẹp của đôi mắt trong veo, sáng ngời và dẻo dai; “xuân sơn” gợi lên đôi lông mày thanh tú, mềm mại và tươi tắn trên khuôn mặt trẻ trung. Với hình ảnh nhân hoá “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, tác giả đã làm nổi bật gương mặt của một Việt kiều đa tình làm hoa ghen, một dáng người trẻ trung tràn đầy sức sống khiến liễu hờn. nàng có vẻ đẹp say đắm lòng người qua câu chuyện kinh điển về cố “nghiêng nước nghiêng thành”. nàng đúng là một trang tuyệt không chỉ xinh đẹp mà còn rất tài năng:

    bản chất thiên phú thông minh, văn thơ, đầy đủ hương thơm ca hát, ngâm thơ, ngâm thơ, ngâm nga, ca hát, nhảy múa, cầu thang, nghề nghiệp tư nhân, ăn cơm nhà hát, khéo chọn, như vậy là số phận của một lão nhân gia

    nàng vốn thông minh bẩm sinh, có tài làm thơ, vẽ tranh, “bách hợp xướng ca”, tài chơi đàn thuộc loại “tuyệt cú mèo”, âm luật điêu luyện đến nỗi thành “rác rưởi”. , và cô ấy anh cũng đang sáng tác nhạc “một thiên mệnh bạc” – đó là sự ghi lại nỗi lòng của một trái tim đa cảm đa màu. Vẻ đẹp của kiều nữ là sự kết hợp của tài năng và tình yêu. bức chân dung của nàng thùy kiều cũng là bức chân dung định mệnh về vẻ đẹp của nàng khiến đấng tạo hóa phải ghen tị.

    bốn câu thơ cuối của Nguyễn Du trình bày cuộc sống của hai chị em thủy chung, tuy “hồng nhan bạc mệnh”, tuy “giàu sang”, đã sang tuần nhưng cả hai vẫn sống một cuộc đời lặng lẽ, theo các giáo viên kỷ luật:

    trời thanh bình và yên tĩnh, màn giăng đầy ong bướm

    Câu hát có giai điệu nhẹ nhàng tạo nên cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho các thiếu nữ chốn phòng the.

    Đoạn trích Chị em nhà thủy chung là một trong những bài thơ hay nhất trong lịch sử văn học, ngôn ngữ thơ tinh tế giàu cảm xúc, nét vẽ giàu sức gợi, sử dụng biện pháp nhân hóa ẩn dụ để xây dựng chân dung hai chị em Thủy kiều. Thật đáng quý khi bức chân dung tuyệt vời này được dựng lên bằng tình yêu và sự kính trọng đối với con người của tác giả. Đọc đoạn trích, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều, đồng thời thấy rằng chúng ta phải tích cực tu dưỡng để ngày nay trở thành người liêm khiết, có ích cho đất nước.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 15

    hai chị em thuy kieu trong phần đầu của truyện kieu. Với lối viết bậc thầy, Nguyễn Du không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp riêng biệt của hai người phụ nữ ở nước ngoài mà còn cho người đọc thấy được số phận của hai cô gái trong tương lai. Thật là một nhà thơ lớn của dân tộc.

    sử dụng thư pháp thông thường, mượn vẻ đẹp tự nhiên của nguyễn du thể hiện vẻ đẹp thuần khiết của thủy chung và thủy chung:

    <3

    giới thiệu về hai chị em, như thể sử dụng một kỹ thuật thông thường, để làm nổi bật vẻ đẹp của hai cô gái: họ có thân hình đẹp và mảnh mai, với tính cách trong sáng như tuyết. họ lấy hai hình ảnh truyền thống là hoa mai và tuyết đã tôn lên hoàn hảo vẻ đẹp của hai chị em. bốn câu thơ đầu tạo đà, làm nền cho cảnh, sau đó lần lượt hiện ra chân dung của hai chị em.

    Thủy vân dưới ngòi bút của nguyễn du là một cô gái có vẻ đẹp dịu dàng, đoan trang: “Vân dung mạo đoan trang / Trăng rằm nét nở / Hoa nụ cười trang nghiêm ngọc / Mây mất nước bạc tóc, tuyết rơi màu cho làn da “. Chỉ với bốn câu thơ xen lẫn những phép đo, so sánh, ẩn dụ, ước lệ, Nguyễn Du đã khắc họa một cách tinh tế vẻ đẹp của Thúy Vân. cô có khuôn mặt tròn như trăng rằm, đôi lông mày đầy đặn và đầy đặn. kết hợp với hàng loạt tính từ chỉ cách cư xử: trang nghiêm, trang trọng, nghệ thuật tầm thường đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của thuy văn. Những đặc điểm ngoại hình này đã báo hiệu một tương lai tươi sáng, một tương lai tốt đẹp và hạnh phúc viên mãn đang chờ bạn ở phía trước.

    và thuy kiều là một cô gái tài sắc vẹn toàn. đoạn văn miêu tả thủy văn và nguyễn du đã chứng tỏ được sự tài hoa, điêu luyện, chủ yếu dùng lối miêu tả hình tượng là chính, thì đoạn thơ tả cảnh ngụ tình của nghệ thuật miêu tả chân dung lại càng sắc nét hơn:

    nhan sắc sắc sảo hơn người, so với tài sắc còn hơn cả vẻ đẹp xuân sắc, khi ghen thì ghen, liễu kém xanh

    Nếu như thủy văn đi vào miêu tả chi tiết, thì khi miêu tả thủy chung, nguyễn du chỉ tập trung miêu tả đôi mắt. ông đã dùng nhiều hình ảnh đẹp, trong sáng của thiên nhiên để miêu tả: mùa thu non nước, bức tranh mùa xuân. nhưng những gì đẹp đẽ và tinh túy nhất đã được lột tả qua con mắt tâm hồn và giàu cảm xúc của Thủy kiều.

    ngoài vẻ đẹp hình thức, nó còn làm nổi bật tài năng của thủy chung. bà đã dùng tám câu thơ để khẳng định vẻ đẹp và tài năng của mình. Khác với những cô gái khác đề cao vẻ đẹp phúc đức, ở đây nguyễn du còn đề cao một vẻ đẹp khác, đó là vẻ đẹp tài năng của người con gái ít được đánh giá cao:

    một hai nghiêng nước nghiêng thành, phải nhờ đến tài vẽ, hai trí thông minh vốn có của nghề sơn cước đủ mùi hát, ngâm, hát, hát, nghề riêng, ăn xôi ở hồ. , cầm một chương tự tay chọn, nên mệnh trời chương một còn não người hơn nữa

    Tài năng của Thủy Kiêu về mọi mặt: lễ, tiết, thi, họa, đặc biệt là tài năng âm nhạc của ông đã đạt đến mức không ai sánh kịp. tác phẩm số phận mà anh viết thể hiện tài năng của anh và như một điềm báo về tương lai bất hạnh và ảm đạm của cuộc đời anh. quả là tài lộc tương đối, chữ tài đi với chữ tai có vần. Không phải chỉ khi tả tài mới bộc lộ số phận bất hạnh của Thúy Kiều mà ngay khi tả vẻ đẹp của nàng, Nguyễn Du đã dần bộc lộ những điều ấy cho người đọc qua các từ: ghen, hận, nghiêng nước nghiêng thành. , nghiêng về thành phố, làm nổi bật sự bất an về vẻ đẹp và tài năng của nàng thùy kiều. và quả thật quãng đời mười lăm năm trôi lăn lóc của anh sau này là minh chứng rõ ràng nhất.

    đoạn trích Chị em thủy chung có thể coi là một mẫu mực về nghệ thuật đại diện cho con người trong văn học trung đại. Từ hình ảnh chung, bằng nét vẽ tài hoa, Nguyễn Du đã lột tả được vẻ đẹp và số phận của hai cô gái. Ngoài ra, anh cũng sử dụng linh hoạt ngôn ngữ so sánh, ẩn dụ, quy ước và hệ quả để đạt được thành công cho tác phẩm.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 16

    “Truyện kiều” hay còn được gọi là “khẩu quốc tân thanh” (tiếng nói mới cất lên từ khúc ruột) là một kiệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du. nhưng số phận bạc mệnh được thể hiện rõ nét trong tác phẩm. của tác giả nguyễn du, đặc biệt là đoạn trích “chị em thủy chung”, nguyễn du đã miêu tả vẻ đẹp của hai chị em thủy chung, đồng thời cũng mang điềm báo về vận mệnh tương lai của họ.

    “nha đầu, hai vị tiên sinh là chị em, ta là thuy vanmai, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

    Cả hai chị em đều sở hữu vẻ đẹp hoàn hảo, từ ngoại hình “mình hạc xương mai” cho đến vẻ đẹp bên trong như “tuyết thần”. vẻ đẹp của thùy văn được miêu tả trong bốn câu thơ sau:

    “Vân trang nghiêm khác trăng rằm, đủ các nét nở, nụ cười, ngọc, mây trang nghiêm, tóc rũ nước, tuyết nhường màu da”

    nguyen du lột tả trọn vẹn vẻ đẹp của thu và đa dạng từ khuôn mặt, nét đặc trưng, ​​màu da, mái tóc đến giọng nói, nụ cười và cả tính cách. thuy văn hiện lên qua những hình ảnh, những tính chất quy ước của văn học trung đại. Nguyễn du tập trung làm nổi bật vẻ đẹp nhân hậu, đoan trang của thủy chung. Vẫn là hình thức văn học cổ quen thuộc, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người, nhưng bức chân dung thủy chung, qua nét dịu dàng của cụ Nguyễn Du bỗng trở nên sống động nhờ chứa đựng quan niệm về tài năng của chính nhà thơ. khuôn mặt xinh đẹp đầy đặn thùy mị, đoan trang, đoan trang – một vẻ đẹp và bản chất sẵn sàng chịu thua “mây mất nước, tóc tuyết nhường màu da” – như báo trước một cuộc đời, một số phận êm đềm. , êm đềm, tròn trịa, yên bình. Trên thực tế, bằng những ngôn từ trau chuốt, những hình ảnh gợi tả vẻ đẹp ước lệ, giàu sức gợi tả, chắt lọc qua một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, Nguyễn Du đã khắc hoạ rất sinh động vẻ đẹp trang nghiêm đầy uy nghiêm, cao quý, mơn man sức sống của Thuý Vân, thể hiện một sự vô tư. Linh hồn. , báo trước một cuộc sống bình yên, vinh quang và giàu sang sẽ mỉm cười với cô và vui vẻ chào đón cô.

    nhưng việc miêu tả vẻ đẹp của thùy văn không phải là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Về cơ bản, đó chỉ là tạo tiền đề, tạo chỗ đứng nghệ thuật “tiêu biểu cho hình tượng người chủ nhà” để làm nổi bật tài năng của nàng thùy kiều, nhân vật trung tâm của vở diễn. khác với thùy vân, thùy kiều mang vẻ đẹp “mặn mà sắc sảo”, cả tài lẫn sắc đều đạt đến trình độ cao. chính từ ngữ và hình ảnh mang tính biểu tượng, qua ngòi bút miêu tả tài hoa của nguyễn du, hình ảnh người phụ nữ kiều diễm, sắc nước hương trời đến hoa phải “ghen”, liễu phải “hận. “. nàng đôi mắt đẹp trong veo như làn nước mùa thu, lông mày đẹp tươi như màu núi xuân “thu thủy, xuân sơn”. nếu sắc đẹp của thủy chung và trời xanh còn có thể chịu đựng được, thì đối mặt với vẻ đẹp của thiên nhiên thủy chung cũng trở nên ghen tị và ghen tị:

    “Kiều nữ sắc sảo, so tài sắc còn hơn xuân sắc, hoa ghen tị, liễu kém xanh”

    bản chất ghen tị và ghen tị với cô ấy. vẻ đẹp của nàng bạc mệnh, vẻ đẹp “mặn mà sắc sảo” khiến thiên nhiên phải ghen tị là điềm báo cho một cuộc đời đầy sóng gió sắp tới. Nguyễn du đã không tiếc lời ca ngợi vẻ đẹp và tài năng của người phụ nữ ngoại quốc. Không giống như thủy văn, thủy kiều thông minh, đa tài, đa cảm, là một người tài giỏi tuyệt đối: tài thơ, nghệ thuật và âm nhạc của Thủy kiều đạt đến mức tuyệt vời:

    “vốn thông minh bẩm sinh, hội họa, sơn thủy, khá mùi mẫn, đàn hát, múa hát, điệu đàng, 5, nghề tư, ăn nên làm ra.”

    Cả hình dáng bên ngoài và tâm hồn cũng dần hé lộ số phận của người phụ nữ ở nước ngoài. Rõ ràng, Nguyễn Du khi miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ ở nước ngoài đã gửi gắm vào đó khái niệm “tài hoa bạc mệnh”, dự báo cuộc đời, nỗi bất hạnh muôn năm, khó khăn của nàng.

    sử dụng phong cách miêu tả ước lệ tượng trưng của văn học cổ điển, với ngòi bút tài hoa, chắt lọc và chắt lọc ngôn từ, Nguyễn Du đã khắc họa sinh động hai bức chân dung của thủy văn và thủy chung. mỗi người đều mang một vẻ đẹp riêng, toát ra từ tính cách và số phận riêng, không lẫn vào đâu được, không thể phai mờ trong tâm hồn người đọc. Đây là một cú đánh vào phong cách nghệ thuật tả người của Nguyễn Du. Trải qua hơn hai thế kỷ, nghệ thuật miêu tả người và truyện Kiều độc đáo, tinh tế của Nguyễn Du đã điêu luyện, lay động lòng ngưỡng mộ, kính trọng của bao thế hệ đối với Đại thi hào dân tộc Nguyễn.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 17

    thơ cổ viết về mỹ nữ, bài thơ của chị em thủy kiều trích trong Sử ký của nhà thơ nguyễn du là một trong những bài thơ hay nhất. Hai mươi bốn câu sáu tám đã miêu tả vẻ đẹp, tài năng và đức độ của chị em Thuý kiều, hai người đàn bà đẹp không ai sánh bằng với tất cả sự yêu mến, kính trọng của bậc thi nhân thiên tài của dân tộc.

    ở bốn câu đầu, nguyễn du giới thiệu người thứ hai trong gia đình: “Thủy kiều là em, tôi là thủy văn”, cô là con gái đầu lòng của ông bà. “hai bà” là hai cô gái xinh xắn và xinh đẹp. tinh thần cao quý như hoa mai (một loài hoa đẹp và quý), và tinh thần trong trắng như tuyết. hai chị em có vẻ đẹp tâm hồn hoàn hảo “mười phân vẹn mười”, nhưng mỗi người lại có một vẻ đẹp riêng “mỗi người một vẻ”.

    một cái nhìn trân trọng về sự khám phá; lấy hoa mai và tuyết làm tiêu chuẩn cho vẻ đẹp, nguyễn du miêu tả một tâm hồn trong sáng và thuần khiết, làm rõ thần thái của một chân dung thiếu nữ.

    bốn câu sau đây miêu tả vẻ đẹp của thủy văn. mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa của một bức chân dung tuyệt đẹp. cử chỉ, bước đi … rất trang trọng và cao quý. hành vi là đàng hoàng. bạn đang nở rộ và tinh tế như một con bướm tằm. khuôn mặt đẹp như trăng rằm. nụ cười tươi như hoa. giọng nói trong trẻo như ngọc. mái tóc mềm mượt óng ả “mây trôi”. bộ lông trắng muốt mềm mại khiến phái tuyết phải “chào thua”. mô tả độc đáo và biến đổi. sử dụng ẩn dụ, nhân cách hóa một cách khéo léo:

    khuôn trăng đầy đặn, các đường nét của cô ấy đang nở rộ. hoa cười, ngọc bội. sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá: mây rụng tóc, tuyết nhường màu da.

    các từ: “trang trọng”, “tươm tất” là hai nét chấm phá tinh tế, gợi lên thần thái của chân dung người phụ nữ: vẻ đẹp quý phái, duyên dáng. cái nhìn đầy tình người và sự kính trọng của nhà thơ khi miêu tả cảnh thủy mặc.

    Mười hai câu sau đây miêu tả vẻ đẹp và tài năng của Thủy kiều. Nguyên du trước tiên tả thủy, sau đó tả thủy, chỉ dùng 4 câu tả thủy, dùng đến 12 câu tả thủy. Đó là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du, Kiều không chỉ đẹp mà còn giàu tài năng. vẻ đẹp “sắc sảo, mặn mà”, đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”. kiều nữ là một đại mỹ nhân “xinh đẹp phải yêu một”. nếu có tài, biết đâu lại có người sánh ngang hàng thứ hai: “tài ba vẽ hai”. nguyễn du sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ so sánh kết hợp với nhân hóa để ca ngợi và miêu tả vẻ đẹp của thủy chung:

    ngõ rơi, xuân sơn, hoa ghen, liễu kém xanh

    đôi mắt đẹp trong xanh như nước hồ vào mùa thu, lông mày thanh tú như núi vào mùa xuân. đôi môi và đôi má hồng hào khiến hoa ghen tị làn da trắng nõn nà khiến cây liễu cũng phải “ghét cay ghét đắng”. họ vẫn lấy vẻ đẹp tự nhiên (thu thủy, xuân sơn, hoa lá, liễu rủ) làm chuẩn mực cho cái đẹp, là nét thư pháp thông thường trong thơ cổ. tuy nhiên nét vẽ của nguyễn du rất tài hoa, mỗi nét vẽ đều có cái thần, cái đẹp của con người.

    Kiều của “thông minh nội tại” nghĩa là thông minh bẩm sinh, nên các môn nghệ thuật như thơ ca, hội họa, ca hát cũng chỉ là những thú vui duyên dáng, nhưng cô rất tinh tế và khéo léo: “cao thủ”, “ăn nên làm ra” hơn cả thiên hạ:

    thông minh, bản tính vốn có, hỗn hào sơn thủy, đầy mùi ca hát … cung thương, thang 5 âm, nghề riêng ăn nên làm ra.

    kiều giỏi về luật âm, giỏi về âm vực. cây đàn hạc cô ấy chơi là cây đàn hạc; giọng hát của anh ấy thật hay “ăn” bất cứ nghệ sĩ nào. Kiều còn biết sáng tác nhạc, tên bài hát do chàng sáng tác là một “thần mệnh” “nghe buồn đau” khiến lòng người buồn bã, đau khổ. các từ: sắc, mặn, ghen, ghen tị, đố kỵ, xốc nước, đòi một, vẽ hai, vốn có, khả năng hỗn hợp, đầy mùi, bước chân, đứt đoạn, bạc mệnh, não tàn – nhân tạo tạo nên một hệ thống ngôn ngữ rực rỡ của trái và tiết lộ dự đoán về số phận của kiều nữ, được truyền tải qua các bài hát nổi tiếng:

    một trong những hoàn hảo!

    bốn câu cuối của đoạn văn nói về đức tính của hai người phụ nữ: tuy xinh đẹp, tài giỏi nhưng lại rất “giàu có”, đã là tuần “báo ứng” rồi, nhưng “hai nàng” đã đành. đã làm điều đó và đó là sống một cuộc sống có kỷ luật:

    thật yên tĩnh, rèm cửa được đóng lại, bức tường đầy ong và bướm.

    dòng “xuân xanh về tuần” là một câu thơ đặc sắc về thanh điệu, về cách sử dụng phụ âm “x” (về xuân xanh), phụ âm “t” (về tuần), phụ âm “c-k” (cà phê) tạo nên giai điệu nhẹ nhàng, êm đềm về cuộc sống yên bình và êm ả của cô gái trong phòng.

    bài thơ về chị em nhà thủy chung là một trong những bài thơ hay và đặc sắc nhất trong những bài thơ hay được nhiều người yêu thích và biết đến. ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu cảm xúc. nét vẽ súc tích, gợi cảm, mỗi nét vẽ đều có thần. nhà thơ sử dụng các biện pháp thơ như ẩn dụ, so sánh, nhân cách hoá để sử dụng tinh thần của mình để tạo nên những vần thơ ước lệ, trữ tình, giàu chất thơ. đằng sau chân dung người đẹp ẩn chứa một tấm lòng trân trọng và yêu mến. đó chính là nghệ thuật thể hiện một con người tài hoa của nhà thơ nguyễn du mà chúng ta có thể cảm nhận được.

    phân tích đoạn trích Chị em thủy chung – văn mẫu 18

    nguyễn du là một nhà thơ lớn của dân tộc, một nhà nhân đạo lớn luôn nhìn đời bằng con mắt “thấu suốt lục đạo, lòng nghĩ ngàn đời”. nhắc đến ông, ta không thể bỏ qua kiệt tác “truyện kiều”, trong đó đoạn văn “chị em thủy chung” miêu tả vẻ đẹp của hai chị em thủy chung và thủy chung để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

    Trong bốn dòng đầu, Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp chung của hai chị em:

    <3

    Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ kết hợp với những từ láy mang ý nghĩa tượng trưng, ​​nhà thơ đã giúp người đọc hình dung ra vẻ đẹp của hai chị em với “a sang nga”, “mai phục”, linh tuyết ”,“ mười phân vẹn mười ”. du gọi là thủy kiều và thủy vân là “a to nga”, có nghĩa là người con gái xinh đẹp, đặc biệt việc mượn hình ảnh cây mai và thiên nhiên tuyết cũng cho thấy hai chị em có tính cách ngay thẳng, cao quý, vô cùng. nhẹ nhàng và mỗi người một vẻ đẹp khác nhau không kém những người khác.

    tác giả sử dụng bốn câu thơ sau để miêu tả vẻ đẹp của thủy vân:

    van trông khác và trang trọng, trăng rằm mang nét ngài. hoa cười và ngọc trai trang nghiêm, mây trôi trong nước, tóc tuyết nhường màu da.

    thuy van tỏ ra là một cô gái vô cùng duyên dáng với khuôn mặt “đầy đặn” và “đầy đặn”. mỗi khi nở nụ cười, anh đều toát lên vẻ uy nghiêm, phong nhã, khiến “mây mất nước, tóc tuyết nhường màu da”. thiên nhiên cũng phải ghen tị với mái tóc và làn da, không thể khuất phục trước vẻ đẹp của cô gái này. Như vậy, trong việc miêu tả vẻ đẹp của nàng thùy vân, nguyễn du đã phần nào gợi ý về số phận hiền lành, thùy mị của người con gái này, luôn bao dung với vạn vật.

    Nếu để miêu tả về nàng thú, tác giả chỉ sử dụng bốn dòng thì khi nói về vẻ đẹp của loài thú, nhà thơ phải dùng đến mười sáu dòng.

    kiều diễm càng thêm sắc sảo mặn mà, so với tài sắc lại có phần hơn: xuân sắc kiều diễm mùa thu, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. nghiêng nước nghiêng thành một hai, sắc phải nhờ đến tài vẽ hai. .

    Tác giả dùng bốn câu thơ để nói về vẻ đẹp của người phụ nữ ở nước ngoài. nếu như thùy văn toát lên vẻ đẹp dịu dàng thì kiều diễm lại “sắc sảo mặn mà hơn”. nàng có đôi mắt đẹp, trong veo như làn nước mùa thu với đôi lông mày đẹp và duyên dáng như núi mùa xuân. hai mỹ nhân này kết hợp với nhau tạo nên một vẻ đẹp riêng, khiến cho thiên nhiên cũng phải ghen tị và ghen tị trước vẻ đẹp của nàng. Điều này báo trước một tương lai đầy thăng trầm. Kiều nữ không chỉ có nhan sắc mà còn có biệt tài chơi piano:

    bản chất thông minh bẩm sinh, dung hợp với thơ và họa với mùi hương của bài hát và bài hát. cung thương tại ngũ âm, nghề nghiệp của chính mình ăn lên chương. khúc nhà do chính tay anh chọn, một nén bạc. số phận còn não nề hơn. .mà phong cách rất hồng, tuần sau là mùa xuân đến rất gần. rèm che và những bức tường đầy bướm và ong.

    nhà thơ đã xuất ngoại để trở thành một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, có nhiều tài năng đi thi. đặc biệt, cách chơi guitar của anh độc đáo đến mức “ăn cả chương”. tuy giọng hát hay nhưng có gì đó buồn và bi thương như chính cuộc đời của cô ấy vậy.

    vì vậy, bằng tài năng nghệ thuật của mình, tác giả nguyễn du đã giúp em hình dung ra vẻ đẹp của hai chị em thuỷ chung, mỗi người một vẻ đẹp khác nhau. thuy van toát lên vẻ trang nghiêm, tao nhã, còn thuy kiều thì đầy tài năng. Đồng thời, qua việc miêu tả vẻ đẹp của hai chị em, nhà thơ cũng báo trước số phận mà hai người con gái sắp phải trải qua, đặc biệt là số phận bấp bênh mà người Việt kiều sắp phải trải qua.

Nguồn: https://truongxaydunghcm.edu.vn
Danh mục: Văn Học

Related Articles

Back to top button