Trào lưu văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945 – Redsvn.net

Bạn đang quan tâm đến Trào lưu văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945 – Redsvn.net phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật, cùng với sự bóc lột của cường hào, địa chủ đã gây ra bao đau thương cho nhân dân. .

Trào lưu văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Bạn đang xem: Các tác phẩm phê phán xã hội phong kiến

Từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng có những bất công, bất công, người dân bị đàn áp, bóc lột đến tận xương tủy. hiện thực đen tối của cuộc sống những năm trước cách mạng được nhà văn ghi lại bằng những nét vẽ chân thực, tạo nên một trào lưu lớn trong đời sống văn học thời bấy giờ: trào lưu văn học hiện thực phê phán.

Bằng sự đồng cảm sâu sắc, các nhà văn hiện thực đã dựng nên nhiều cảnh đời, những số phận đau thương của nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội cũ. họ hiểu được nỗi đau tận cùng, họ nhận ra những kết cục bi thảm mà xã hội dành cho những con người khốn khổ. Có thể nói, tư tưởng “nghệ thuật vì lợi ích con người” đã ăn sâu vào các tác giả của trào lưu văn học này. Nhà văn Vũ Trọng Phụng từng nói: “Bạn nói tiểu thuyết là tiểu thuyết, còn tôi và những nhà văn như tôi nói rằng nhà văn là cuộc đời”.

Chủ nghĩa hiện thực phát triển thịnh vượng trong khoảng mười lăm năm, nhưng nhiều tên tuổi lớn đã xuất hiện và đang trong độ chín của sự nghiệp, như: nguyễn công hoan, ngo tat to, vu trong phung, nguyễn hồng, nam cao … các tác phẩm của họ là in đậm. những hình ảnh về đời sống xã hội mang lại giá trị nhận thức cao cho người đọc.

Chưa bao giờ trong đời sống văn học lại xuất hiện hàng loạt tác phẩm văn học và bài phê bình văn học xuất sắc như vậy. có thể kể đến các tác phẩm như: Bão điện, số đỏ, vỡ đập … do vu trong phung; bước cuối cùng, tinh thần thể dục của nguyen cong hoan; tắt đèn, báo thị trấn văn ngoắt sang; Tiểu thuyết Bỉ ngạn của nhà văn Nguyên Hồng; nhà văn cao nam với hàng loạt tác phẩm có giá trị như: lão hạc, bữa no, chí phèo…

Xem thêm: Thuyết minh về tác giả Kim Lân và tác phẩm Làng – Trần Bảo Việt

Đó là những tác phẩm có thể làm rạng danh mọi nền văn học (nguyễn khai). chủ nghĩa hiện thực như một lưỡi cày sâu, lật ngược những mặt tối của xã hội đương thời. các nhà văn đã khắc họa thành công những nhân vật điển hình với tinh thần phê phán quyết liệt, mạnh mẽ tố cáo những thủ đoạn áp bức, bóc lột, những chính sách gian dối, lệch lạc của giai cấp thống trị, đồng thời vạch trần nỗi thống khổ của giai cấp thống trị với lòng đồng cảm sâu sắc.

Tác phẩm tắt đèn của ngô totto tái hiện khung cảnh ngột ngạt, căng thẳng của làng quê đồng nát trong những ngày thu thuế. ở đó ta thấy hình ảnh chú gà trống phải chạy đôn chạy đáo kiếm ăn, phải bán con, bán chó, bán sữa của chính mình mà không đủ tiền đóng thuế. Cả gia đình gà trống đã phải lao đao vì một thứ thuế vô lý và bất nhân của chế độ thực dân phong kiến: thuế thân.

Với phóng sự của thị trấn, chúng ta thấy một vùng nông thôn Việt Nam với những hủ tục cản trở sự phát triển của xã hội.

dưới con mắt của bậc thầy trào phúng, cuộc đời giống như một vở hài kịch bi kịch, thể hiện qua tiếng cười cao vút và xúc động trong các tác phẩm của ông: bão táp, số đỏ, vỡ đập, cạm bẫy người, kỹ nghệ miền Tây … những chân dung biếm họa như Xuân tóc đỏ, ông cố hồng, ông đồ có sừng, cô gái tuyết … chúng hiện ra rõ nét; các phong trào do dân định cư khởi xướng như “Âu hóa”, “Vui tươi trẻ”, thi đấu thể thao, cải cách trang phục… được tác giả vạch trần, phơi bày qua tiếng cười châm biếm, hài hước, trào phúng và lòng căm thù xã hội bẩn thỉu, giả dối, đồi bại. tất cả đều đã thể hiện một bản lĩnh nghệ thuật cổ xưa, một tài năng nghệ thuật độc nhất vô nhị có một không hai trong vũ trụ.

Trong số các nhà văn hiện thực đó, ông cao nổi lên như một gương mặt tiêu biểu. theo quan điểm sáng tạo: nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, càng không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ phát ra từ những kiếp người khốn khổ … (soi sáng) và nhà văn luôn phải mở lòng mình. tâm hồn để đón nhận những rung động của cuộc sống … (lãnh đạo), anh đã cho ra đời những tác phẩm đầy chất hiện thực, với dụng ý tố cáo xã hội một cách sâu sắc.

Các tác phẩm của ông thường tập trung và đi sâu vào những bi kịch của cả những người nông dân nghèo và trí thức nghèo trên con đường tìm kiếm những giá trị đích thực của cuộc sống. Từ đó, Nam Cao đã xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật bất hủ, có sức khái quát cao.

Xem thêm: Chiếu dời đô (Lý Thái Tổ) – Tác giả tác phẩm (mới 2022) | Ngữ văn lớp 8

chi phèo là một tác phẩm tiêu biểu về đề tài người nông dân nghèo khổ. Trước cách mạng tháng Tám, có rất nhiều tác phẩm viết về nỗi khổ của người nông dân dưới hệ thống xã hội cũ và chúng đã rất thành công. Đó là một thử thách không hề nhỏ đối với nam giới, nhưng với tôn chỉ: văn chương chỉ chấp nhận những ai biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi nguồn, sáng tạo những gì chưa được, tác giả đã tìm tòi, tôi có lối đi riêng.

Nếu những tác phẩm khác viết về người nông dân thường khai thác nỗi khổ về vật chất, nỗi trăn trở về cơm ăn áo mặc thì ở tác phẩm của mình, nhà văn đặt ra câu hỏi về nhân cách và ước mơ khát vọng hạnh phúc của người nông dân. nhất là về tình trạng con người bị xúc phạm về nhân phẩm, bị hủy hoại nhân tính, bị bóp nghẹt ước mơ, bị đẩy vào tình trạng bế tắc không lối thoát. và ít có nhà văn nào hiểu sâu sắc những ngóc ngách sâu thẳm của những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn người nông dân, biết đánh thức khát vọng sống, làm người. khát vọng hạnh phúc đối với họ thật giản dị, không ngoại trừ quyền được sống tốt, được biết đến hương vị của hạnh phúc gia đình. Chí phèo từng ao ước có một gia đình nhỏ, chồng đào, cuốc, vợ dệt vải thật bình dị, đáng trân trọng. nhưng không, mọi thứ đều bị giật đi, bị đẩy đến đường cùng, bị chà đạp đến mức không nhận ra hình dáng con người, để rồi biển thành yêu quái. câu hỏi của chí phèo: ai cho mình lương thiện có sức mạnh tố cáo xã hội.

Về đề tài trí thức nghèo, các cao nhân thường tập trung miêu tả nỗi đau tinh thần và sự xói mòn nhân phẩm của người trí thức. họ thường là những học sinh nghèo, những cô giáo trường tư thục, những nhà văn có ước mơ, hoài bão lớn nhưng khi gặp thực tế cuộc sống lại bị cơm áo gạo tiền vùi dập. họ vỡ mộng, vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp và rơi vào bi kịch, phải sống khổ sở, thường xuyên bị dày vò về tinh thần, rơi vào cảnh sống hoang phí, thừa thãi, vô nghĩa …

Hầu hết các sáng tác của nam cao đều chủ yếu lấy cảm hứng từ khát vọng cháy bỏng là muốn con người sống xứng đáng với hai chữ làm người. từ khát vọng về một cuộc sống ý nghĩa mà trong con mắt của con người cao cả, loài người đang ở trong tình trạng hủy diệt nhân tính, chết khi đang sống. đó cũng là tầm nhìn nhân đạo của nhà văn với mong muốn cuộc sống con người tốt đẹp hơn.

trào lưu văn học hiện thực phê phán đã đưa ra tiếng nói chung thể hiện bản chất thối nát, phi nhân tính của xã hội Việt Nam trước cách mạng. và chính sự vận động này đã tạo nên sự đa dạng phong phú của văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa nền văn học nước nhà.

theo dinh thi luu / pt le hong phong – quang binh

Xem thêm: Chiếc lược ngà – loigiaihay.com

                       

Vậy là đến đây bài viết về Trào lưu văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945 – Redsvn.net đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button