Sáng tác của Nguyễn Tuân thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám 1945

Bạn đang quan tâm đến Sáng tác của Nguyễn Tuân thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám 1945 phải không? Nào hãy cùng Truongxaydunghcm.edu.vn đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy!

nguyen tuan bắt đầu viết vào đầu những năm 1930. anh ta không phải là một nhà văn thành công ngay từ công việc đầu tiên. Từ những ngày bị quản thúc ở Thanh Hóa, ông bắt đầu làm việc tại một tờ báo, viết văn và làm phóng viên bản tin địa phương cho tờ báo Tân Văn của Bắc Trung Bộ; sáng tác thơ và viết cho tạp chí an nam, đông tay, tiểu thuyết thứ bảy dưới các bút danh dat loi dat, thanh ha, nhat lang va noi tieng. anh thử nghiệm sáng tác ở nhiều thể loại: thơ, hồi ký, truyện trào phúng. chúng là những sáng tác không gây ấn tượng cho người đọc. Từ năm 1937, Nguyễn Tuân đã viết nhiều truyện trào phúng hiện thực như: Đông là Đông, Tây là Tây, Vụ đánh cá lậu, Mười năm mới gặp một cố nhân, Thời sự, đăng trên báo Đồng. nhật ký (tái bản). Tiếng cười châm biếm của Nguyễn Tuân rất thoải mái, đậm chất dân gian; nhưng những tác phẩm này vẫn không gây được tiếng vang. Mãi đến đầu năm 1938, Nguyễn Tuân mới thực sự khẳng định được tài năng của mình qua các tác phẩm Một chuyến đi (1938), Quê hương nhớ thương (1940), Mắt cua đồng (1941), đặc biệt là tập truyện về tiếng vọng. of a time (1940) – một tác phẩm được nhà phê bình vũ ngọc phan nhận xét là “một tác phẩm tiệm cận với sự hoàn hảo và hoàn hảo”.

Trước cách mạng, sáng tác của Nguyễn Tuân chủ yếu xoay quanh ba chủ đề: “dời non”, vẻ đẹp “vinh hoa” và cuộc sống phóng túng.

Bạn đang xem: Các tác phẩm nguyễn tuân

Tính cách của Nguyễn Tuân cùng với sự bất mãn và bất lực trước thời gian đã khiến ông tìm thấy một lối thoát cho sự lang thang. “Dịch chuyển” đã trở thành đề tài quen thuộc trong các sáng tác trước cách mạng của Nguyễn Tuân, xuyên suốt các tác phẩm: Một cuộc hành trình, Vô gia cư, Tiểu luận I, Tiểu luận II, Một cuộc hành trình. xuất bản năm 1940) tập hợp một loạt bài du ký đăng trong tiểu thuyết thứ bảy từ năm 1938 với nhan đề “cánh đồng ma” ở quê nhà. một hành trình có khi thở ra chất thơ bay bổng của một tâm hồn nghệ sĩ được thỏa mãn cảm giác xúc động khi chuyển động giữa cảnh vật và con người cùng với những mảng màu mới nơi đất khách quê người, đôi khi đậm chất văn xuôi. , lạnh lùng tiết lộ sự thật trớ trêu, cay đắng, “thích khách” là những kẻ ích kỷ, nhỏ nhen và lưu manh khi hết tiền, rượu. Những trang đặc sắc nhất của chuyến đi là những trang ghi lại một cách khéo léo, rõ nét và chân thực một số nét đặc thù của cảnh vật cùng với phong tục sinh hoạt của con người trên quê hương đất nước. Có thể nói, với tác phẩm này, nguyễn tuấn đã phát hiện và khẳng định tài năng, phong cách của mình – một ngòi bút sử dụng lối văn chính luận – du hành “rất phóng khoáng, lấy cái“ tôi ”của mình làm trung tâm”. một bản ngã luôn di chuyển và tận hưởng, coi cuộc sống như một trường du hành. một lối viết đã tìm được tiếng nói riêng: đôi khi trang nghiêm và cổ hủ, đôi khi vui tươi, ngô nghê, đôi khi du dương, đôi khi hỗn độn, bàng hoàng từ cơn say, sa thải, nhưng luôn luôn tài hoa. đó là viết của một người đàn ông nghi ngờ mọi thứ, chỉ tin vào vốn liếng tình cảm, suy nghĩ và những dự trữ giác quan linh tinh, sự nhạy bén và tài năng của mình, tích lũy được trên con đường phiêu bạt.

nguyễn tuấn chọn dời non làm chủ đề cho tiểu thuyết Không có đất nước của mình (đăng nhiều số trên báo hà nội tân văn từ ngày 2 tháng 1 năm 1940, nhà xuất bản anh hoa – hà nội in năm 1943, vì nhà kiểm duyệt người Pháp đã loại bỏ hai mất. thẻ). trong công việc này, sự dịch chuyển mới đã được thể hiện một cách tập trung và nhất quán. Nguyễn Tuân đã sử dụng câu nói của Paul Morand “Sau khi tôi chết, sẽ có người rám nắng da tôi như một chiếc vali” làm tựa đề cho cuốn sách của mình. vở kịch nói về một nhân vật tên bach, một người mắc chứng bệnh dời chỗ, luôn muốn đi và chỉ đi để cảm thấy còn sống. với bach “đi, thế là xong. wow, ý tôi là hạnh phúc. tất cả lòng tham, dục vọng và nhiệt huyết của người da trắng đều trở về một đầu, một tâm. còn bao nhiêu thì hãy để lại một ít cho những người xung quanh. Đối với riêng anh, trên hết là khao khát và danh vọng, nghĩa vụ và tình yêu đất đai, phục vụ nghệ thuật, niềm vui sống trong xây dựng, anh đã bỏ qua. trắng không cần mục đích, chỉ là “lăn vỏ” mãi trong bụi bẩn, đi “thay thực đơn bằng giác quan”. Sự dời chỗ vốn là một lý thuyết của phương tây, được nissin, gide, pomona, … cổ xúy, chủ trương đi không mục đích, không đích đến, chỉ luôn đổi chỗ để tìm cảm giác mới và rũ bỏ mọi trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. xét cho cùng, đó là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trì trệ và cực đoan, phản ứng vô trách nhiệm với trật tự xã hội đương thời, muốn tự giải phóng khỏi mọi giới hạn của các nguyên tắc luân lý đạo đức trong cuộc sống, khước từ, rũ bỏ mọi trách nhiệm, nghĩa vụ đối với gia đình, xã hội. , quê hương và đất nước.

đọc mà không có quốc gia, có thể thấy rằng nguyễn tuấn không phải là một người tin tưởng tuyệt đối vào dịch chuyển. nhân vật màu trắng ẩn chứa nhiều mâu thuẫn. Có lúc Bách phấn khởi nói: “Tại sao lại lấy phong trào ra làm phương tiện để hy vọng một kết quả nào đó (…) Tại sao không biến toàn bộ sự thật ra để có được niềm vui trong cuộc sống?”; nhưng đứng trước hình ảnh một đoàn trinh sát trên con đường mòn, anh chua chát thốt lên “người ta biết người ta dùng gậy dò đường để làm gì. Mọi người vui vẻ đi làm mỗi khi phải dừng lại cắm trại, đốt lửa trại trên một mảnh đất nào đó của chúng ta. sẽ đau khổ cả khi chúng ta đi và khi chúng ta nghỉ ngơi, khốn khổ là tôi, khốn khổ là tôi! ” Đã có lúc Bách quyết định: “làm cho vỡ lẽ ra thì phải đoạn tuyệt với vợ con, với nhà cửa, với quê hương”; nhưng những lúc khác anh lại sống dằn vặt: “Ngồi trên tàu mà phải lo lắng cho một người có quyền nhớ mình, có quyền buồn cho mình và nếu quả phụ đó lại đau ốm thì phải trả giá bao nhiêu? “Trách nhiệm sẽ đổ lên người lữ khách đã mang tội lãng du, khát khao đường dài, mộng nước rộng”. khi thêm giọng vào triết lý cao siêu của nits, anh coi thường tình cảm gia đình, coi thường những người thiện lương, kìm lòng khi họ đi đường mà nước mắt lưng tròng. Nhưng thực sự, Bách không thể tàn nhẫn với ai được. đối với cha, anh phải thú nhận: “tình cha nào chẳng nặng”. Còn với Dung, một người vợ nhân hậu, giản dị, hết mực yêu chồng, thương con, mỗi lần Bách bới móc khuyết điểm nào đó ở Dung để kiếm cớ ly hôn thì “chỉ có ly hôn mới cứu được mạng sống”. Nếu bỏ đời Bách sẽ hết bận, thôi thì tự mình trở về ”, rồi từ trong thâm tâm, anh thấy“ mỗi tội vợ có trường hợp bất hiếu, đều được tha thứ. “rồi tự hổ thẹn, phát hiện ra rằng đào của mình” không xứng với sự trong trắng chân thành của vợ “, hóa ra bach thực sự là Nguyên tuấn,” vẫn là một lòng hoàn lương “(một chuyến đi), vẫn kính trọng cha mình, thương vợ, còn gắn bó với quê hương, và chính vì có tấm lòng gắn bó với quê hương mà tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn bao giờ hết thân phận nô lệ, cảnh đời tù túng, tù đọng, tẻ nhạt, không khí ngột ngạt, tù đọng. của xã hội thực dân, họ cảm thấy khổ sở khi ở quê nhà mà vẫn thấy “bôn ba” trong cảnh nước mất nhà tan, điều đó làm nên giá trị lâu dài của quê hương, cũng như nhiều bài văn tế khác viết về Trạng nguyên. sự chuyển động, là những trang văn tài hoa, ghi lại một cách chân thực, tinh tế cảnh sắc thiên nhiên, hương vị của đất, nước và cảnh đời với những nét độc đáo khác nhau ở nhiều vùng quê. các khu vực của đất nước chúng tôi.

Xem thêm: Kể chuyện về Bét-tô-ven – Hội Âm Nhạc Hà Nội

tuyển tập truyện ngắn gây tiếng vang một thời (1940) và Tiểu luận về mái tóc của nàng (1943) … là những tác phẩm viết về chủ đề vẻ đẹp “trong sáng”.

vang bóng một thời gồm 11 truyện ngắn đăng trên tạp chí tao đàn và tiểu thuyết thứ bảy năm 1939, nhà xuất bản tân dân, hà nội, in lần đầu năm 1940. Xưa nay y chang. tên tác phẩm viết về “một thời” đã qua giờ chỉ còn “âm vang”. Đó là thời điểm thực dân Pháp vừa đặt xong ách đô hộ trên đất nước ta, phong trào cần vương thất bại, các sĩ tử thi xong kỳ thi Hán học, các sĩ tử khoa bảng cuối mùa mất trắng. . Mọi người. Khác với các nhà Nho, bút ký và lề lối của nhà nho viết về giáo dục phong kiến ​​và chế độ thi cử, truyện ngắn của Trạng nguyên trước đây chủ yếu tập trung miêu tả tập quán, lối sống, phong cách của người dân. của ăn uống, phong thái, đài các của những con người tài hoa này. Đó là thú chơi lan, chơi cúc, uống rượu, chơi thơ, hát dao trong dòng sông hương của người nghèo, của công chúng và bạn khi coi mình là kẻ thất bại. rằng họ không tốt với cái mới ”,“ giữa thời buổi dại dột đã đánh mất quan niệm cũ, đã mất đi bao nhiêu giá trị tinh thần ”(hương thơm). đó là niềm vui của việc thưởng thức trà buổi sáng với các nghi lễ thiêng liêng; đó là niềm vui của ngày xuân mời thực khách thưởng thức hoa và rượu với kẹo ướp phong lan. đó là thói quen “thắp nến trắng trong lòng để đọc thơ lục bát”, thú chơi thơ dưới trăng rằm trên sông, ngâm thơ “nghe trong nước lạnh… như dư âm của một lễ hội. đạo sĩ “Đàn piano gì”… “phần tiêu cực của tác phẩm là được nêu lên như một hình mẫu của lối sống sành điệu, đài các của tầng lớp quý tộc xưa, tuy đã mất, đã bỏ nhưng vẫn cố khẳng định nó bằng một nét gợi tình hơn. nghệ thuật. dù họ không thể che giấu được sự sống héo mòn và héo mòn của những kiếp người sắp chết. Điều đáng khâm phục ở những con người tài hoa bạc mệnh này là dù đành bỏ cuộc trong bất lực, họ vẫn còn nhiều mâu thuẫn với xã hội đương thời, không chịu thích ứng với thời cuộc, chạy theo danh lợi nhưng vẫn cố gắng duy trì “thiên lương”. và “sự trong sạch của tâm hồn”. họ dường như cố tình lấy cái “tôi” tài hoa và kiêu ngạo của mình để chống lại xã hội phàm tục: phô bày lối sống cao đẹp của mình như một thái độ phản ứng lại trật tự xã hội đương thời. trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình ảnh một vị thượng tế ở chữ tử tù, một con người tài hoa, nhân cách trong sáng, cao thượng; Dù chí lớn không thành nhưng Người vẫn coi thường khó khăn, coi thường cái chết, giữ tư thế hiên ngang, hào sảng, bất khuất. ở con người này, tài năng hòa hợp với trời, vẻ đẹp của tài năng hòa với vẻ đẹp của khí chất.

Xu hướng thoát ly và hoài cổ, từng gây tiếng vang, đã phát triển khá mạnh, đặc biệt trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến năm 1945 trong bộ phận văn học công khai. chính sách “hồi sinh” văn hóa của chính quyền thực dân đã giải quyết được tâm trạng trì trệ của nhiều nhà văn khi thấy mình hoang mang trước thực tại và tìm cách trốn vào dĩ vãng. Đó là một lý do để làm vang vọng một thời của Nguyễn Tuân cùng với Nhà nho, Bút tích Chu Thiên, Tiệm ngô được giải thưởng Alexandre de Rhodes.

Mười một quả bóng vàng là tác phẩm kết tinh tài năng của cụ Trạng nguyên thời kỳ tiền khởi nghĩa. nghệ thuật vẽ người, dựng cảnh, dựng hình tượng mang vẻ đẹp mờ ảo, suy tư về một thế giới đang tàn lụi đã đạt đến trình độ điêu luyện của một ngòi bút tinh tế và tài hoa. Những trang viết về vẻ đẹp “hào hoa” của Nguyễn Tuân thấm đẫm tinh thần dân tộc, thể hiện khát vọng vươn lên trên môi trường bẩn thỉu, bộc lộ niềm đam mê tài hoa, sắc đẹp, trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống.

Trong thời kỳ khủng hoảng tinh thần, Nguyễn Tuân đã viết nhiều tác phẩm về đề tài cuộc sống sa đọa. Thực tế, từ một chuyến đi, một Nguyễn tuấn bắt đầu lộ diện, một con người phải vật lộn nhiều với cuộc sống hoang tàn trong quán nhậu, tiệm thuốc lá, nhà trọ, phố hát. Đầu những năm 1930, vừa ra khỏi trại giam Thanh Hóa, Nguyễn tuẩn đã rơi vào tình trạng suy sụp tinh thần và lao vào cuộc sống sa đọa. anh chân thành tâm sự với tôi: “khi đi tù về chỉ muốn chơi”. một năm bị giam cầm “đã khắc sâu vào mặt tôi những nét nghi ngờ nhất định.” hoàn cảnh đó đã đẩy anh ta vào cuộc sống trác táng như một kẻ trụy lạc. Cuộc sống hiện thực những ngày ấy đã được nhà văn khai thác làm đề tài cho các tác phẩm Ngọn đèn dầu lạc (1939), Đèn dầu lạc còn lại (1941) và Chú chim đồng có mắt cua (1941).

Có thể bạn quan tâm: Nhà văn Victor Hugo – Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

chiếc lọ mắt cua đồng là tập tản văn mà nhà xuất bản in lần đầu năm 1941. tác phẩm ghi lại những tâm trạng và cuộc đời của tác giả trong những tháng ngày lang thang, lăn lộn trên những con đường ở rạp hát đầu tiên của mình. tác giả trình bày tập tiểu luận này: “tiểu luận này không phải là một phóng sự sân khấu và nó không phải là một cuốn nhật ký hoàn chỉnh kể lại một thời kỳ khủng hoảng tinh thần. có lẽ cuốn sổ này chỉ là một vài trang văn ghi lại một chút tâm trạng của tôi, và tôi cũng là những ngày tôi buông thả vóc dáng. Toàn bộ tuyển tập bài văn tế trên đỉnh đồng là những câu chuyện về tuồng, về cuộc đời đầy biến động của tác giả trong tu viện, với cây đào, rượu và thuốc phiện, những bài hát và trò chơi. Viết về cuộc đời trác táng, Nguyễn Tuân có cách tiếp cận độc đáo của riêng mình. ông không giống như những nhà văn hiện thực miêu tả sự phô trương như một mặt tiêu cực, một tệ nạn xã hội; không phải là thơ trào lộng như trong câu thơ say của một số nhà thơ lãng mạn; ít sử dụng những lý do thực tế để khơi gợi sự tò mò tục tĩu như các nhà văn chủ nghĩa tự nhiên. chiếc vó bầu cua bằng đồng như một lời thú tội cho cuộc đời ăn chơi, lang bạt, sống buông thả trong “rượu, chè, thuốc phiện, đàn bà, nợ nần”. cũng có những khoảnh khắc nhân vật “tôi” tỉnh dậy, nhận ra mình xấu hổ, thấy mình ngày càng “xấu”, “càng vào tu, tôi càng thấy phẩm hạnh của mình như một con người. gầy hơn mãi. Tôi thấy cơ thể mình ngày càng xấu đi ”, nhưng không hẳn là phải hối hận sâu sắc. nhân vật “tôi” nhiều lần muốn làm lại cuộc đời, nhưng không bao giờ thực hiện được. chính vì cái tôi khoái lạc chủ nghĩa trong con người anh vẫn ngoan cố dai dẳng, chưa dứt khoát dứt tình với anh, để rồi hễ có cơ hội, có lời mời, lời chào, anh lại quay về lối sống cũ. Chiếc lư đồng mắt cua không ca ngợi sự ga lăng, nhưng cũng không thể hiện sự phê phán nghiêm khắc lối sống buông thả theo thói ích kỷ, thiếu trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và xã hội. “Những gì mà chiếc bình đồng mắt cua biểu thị không phải là sự đồi bại mà là sự khủng hoảng tột độ của một trí thức trẻ không hài lòng với xã hội, muốn thoát ra khỏi nanh vuốt của nó nhưng biết không sao cả. Tôi không thể thoát ra được, bởi vì tôi đã không làm thế” “Tôi đã làm được”. Tôi không đủ ý chí và không biết phải đi về đâu. anh ta lao vào ăn chơi trác táng để xoa dịu nỗi buồn, sử dụng tiếng ồn ào của cơn bão để khuấy động những ngày tháng cô đơn và trống rỗng của mình một cách giả tạo.

chiếc lư đồng mắt cua có những nghệ nhân tài hoa rất quen thuộc trong giới mỹ thuật nguyễn tuấn. họ là vợ chồng dao tam, tài hoa, tú lệ, dù phải sống trong cảnh bần hàn, sa đọa nhưng cốt cách vẫn hào sảng, vẫn không mất đi tính kiêu ngạo. cộng với thái độ buông thả, thiếu trách nhiệm, các nhân vật của nguyễn chấp hành, mặc dù chìm đắm trong cảnh trác táng nhưng họ vẫn không thôi muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh đó. Cùng với vẻ vang bóng một thời, chiếc lư đồng hình mắt cua là tác phẩm đỉnh cao trong những sáng tác của cụ Nguyễn phục tùng trước Cách mạng tháng Tám.

tran dang truyen

đọc thêm:

do nguyễn tuấn sáng tác vào thời kỳ sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Xem thêm: Các tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân

                       

Vậy là đến đây bài viết về Sáng tác của Nguyễn Tuân thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám 1945 đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Back to top button